Công ty Luật Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 334 Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Điện thoại: 0911666884- 0924.488.884.

Công ty Đấu giá Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 07 Khúc Hạo, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng

Kim Trọng Hùng Group Kính chào Các bạn

Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng. Website:luatkimtronghung.com.

Luật sư Vũ Trọng Kim-CT Hội cựu TNXP

Ủy viên trung ương ĐCS khóa VIII, IX, X, XI. Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XIII, XIV.

Luật sư Nguyễn Cao Hùng-Giảng viên thỉnh giảng Luật Đầu tư

Tác giả sách: 200 câu hỏi đáp về Khiếu nại, tố cáo. Đồng tác giả sách: Bình luận KH BLTTHS 2015-XNB CAND

Hiển thị các bài đăng có nhãn Hiến pháp & Điều ước QT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hiến pháp & Điều ước QT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

Quyền tài phán của quốc gia ven biển

Khái quát về biển, đảo Việt Nam

Biển và đại dương được các nhà khoa học gọi là “Lục địa xanh”, phủ kín 70,8% bề mặt trái đất và đang “cất giấu” những kho nguyên liệu, khoáng vật khổng lồ dưới dạng hòa tan trong nước, lắng đọng dưới đáy và vùi kín dưới lòng đại dương. Do có đặc thù như vậy nên nhiều vùng biển, đại dương đang là nơi tranh chấp trên thế giới, nhất là đối với những nước lớn ở gần biển và đại dương có sức mạnh về kinh tế và quân sự.

Biển Đông là một biển nửa kín, nằm ở rìa Tây Thái Bình Dương, với diện tích khoảng 3,5 triệu km2 trải rộng từ vĩ độ 30 lên đến vĩ độ 260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210 Đông. Biển Đông tiếp giáp với 9 nước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Bruney, Malayxia, Singapore, Thái Lan, Camphuchia và một vùng lãnh thổ là Đài Loan. Biển Đông có vị trí chiến lược đối với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới.

Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1km bờ biển). Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam.


Hải đăng trên đảo Song Tử Tây - Trường Sa - Ảnh: Văn Thành Châu.

Quyền tài phán của quốc gia ven biển
Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: “quyền tài phán là quyền của cơ quan hành pháp và tư pháp của một quốc gia xem xét và giải quyết vụ việc theo thẩm quyền của mình. Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quốc gia thực hiện quyền tài phán đầy đủ... Quốc gia còn thực hiện quyền tài phán đối với một số nơi bên ngoài lãnh thổ quốc gia: vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các phương tiện bay, tàu biển, tàu thuyền nước ngoài đi lại trong lãnh hải của mình”. Như vậy, có thể thấy, đối với các quốc gia ven biển (QGVB), quyền tài phán được thực hiện đầy đủ trong lãnh thổ và các vùng biển của mình, với các mức độ và tính chất khác nhau, theo quy định của luật biển quốc tế.

Trong vùng nội thủy và lãnh hải, QGVB có quyền tài phán hình sự và dân sự nhất định đối với tàu thuyền nước ngoài theo những điều kiện mà Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (sau đây gọi là Công ước 1982) quy định (Điều 27, 28) khi hậu quả của vi phạm mở rộng đến QGVB; khi vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình của đất nước hay trật tự trong vùng nội thủy; khi thuyền trưởng hay viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu hay khi các biện pháp này là cần thiết để trấn áp việc buôn lậu chất ma túy hay các chất kích thích.

Đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, QGVB thực hiện quyền tài phán để ngăn chặn hoặc trừng trị các vi phạm về hải quan, thuế khóa, y tế và nhập cư; có quyền tài phán đối với các hiện vật mang tính khảo cổ hoặc lịch sử.

Trong vùng đặc quyền kinh tế, QGVB có quyền tài phán đối với việc lắp đặt, duy trì, sửa chữa và sử dụng các đảo nhân tạo, các công trình và thiết bị trên biển; quyền tài phán nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển. Khi thực hiện các quyền tự do biển cả (tự do bay, tự do hàng hải, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm), các quốc gia khác phải tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán và phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát của QGVB. Ngoài ra, QGVB cũng có quyền tài phán trong lĩnh vực hành chính, kỹ thuật và xã hội đối với tàu thuyền mang cờ của quốc gia mình trong các vùng biển của quốc gia khác.

Vùng biển nước ta: bao gồm cả vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nước ta có diện tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu km2). Vùng biển nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, được phân bố khá đều theo chiều dài của bờ biển đất nước, với vị trí đặc biệt quan trọng như một tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ sườn phía Đông của đất nước. Một số đảo ven bờ còn có vị trí quan trọng được sử dụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam, từ đó xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, làm cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển.

Theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven biển có năm (05) vùng biển gồm: Nội thủy nằm bên trong đường cơ sở; lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý; vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở; riêng thềm lục địa có thể kéo dài ra tới 350 hải lý. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển nói trên:

(1) Nội thủy: Là vùng nước nằm ở phía trong đường cơ sở của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nội thủy được coi như lãnh thổ trên đất liền, đặt dưới chủ quyền toàn vẹn đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia Việt Nam.

Đường cơ sở: là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội thủy, do quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo định ra phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Là đường dùng làm căn cứ để tính chiều rộng lãnh hải và các vùng biển khác. Có 2 loại đường cơ sở:
- Đường cơ sở thông thường: Là đường sử dụng ngấn nước thủy triều thấp nhất ven bờ biển hoặc hải đảo.
- Đường cơ sở thẳng: Là đường nối các điểm hoặc đảo nhô ra nhất của bờ biển lục địa hoặc đảo. Đường cơ sở thẳng áp dụng khi bờ biển quốc gia ven biển bị chia cắt hoặc có chuỗi đảo gắn liền và chạy dọc theo bờ biển.
Nước ta có chuỗi đảo chạy dọc theo bờ biển được vận dụng để xác định đường cơ sở thẳng. Năm 1982, Chính phủ nước ta ra tuyên bố xác định đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa Việt Nam gồm 10 đoạn nối 11 điểm. Trừ điểm A8 nằm trên mũi Đại Lãnh, các điểm còn lại đều nằm trên các đảo. Điểm 0 nằm trên ranh giới phía Tây Nam của vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia. Điểm A1: Hòn Nhạn (Kiên Giang); A2: Hòn Đá Lẻ (Cà Mau); A3: Hòn Tài Lớn; A4: Hòn Bông Lan; A5: Hòn Bảy Cạnh (Bà Rịa - Vũng Tàu); A6: Hòn Hải (nhóm đảo Phú Quý - Bình Thuận); A7: Hòn Đôi (Khánh Hòa); A8: Mũi Đại Lãnh (Khánh Hòa); A9: Hòn Ông Căn (Bình Định); A10: Đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi); A11: Đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị).

(2) Lãnh hải: Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý (01 hải lý tương đương 1.852m), ở phía ngoài đường cơ sở. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới của quốc gia ven biển. Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải. Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, chủ quyền đối với vùng lãnh hải không phải là tuyệt đối như vùng nội thủy, tàu thuyền các nước khác được “đi qua không gây hại” trong lãnh hải. Các quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chia các luồng giao thông dành cho tàu nước ngoài đi qua lãnh hải nhằm bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của mình.

(3) Vùng tiếp giáp lãnh hải: Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng 12 hải lý, hợp với lãnh hải thành một vùng rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình nhằm bảo vệ quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.

(4) Vùng đặc quyền kinh tế: Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền vùng lãnh hải và hợp với vùng lãnh hải thành vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có thẩm quyền trong bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

(5) Thềm lục địa: Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó. Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, nước nào có thềm lục địa tự nhiên quá rộng thì thềm lục địa có thể mở rộng ra không quá 350 hải lý kể từ đường cơ sở. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam.


Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

PHÂN BIỆT CÔNG PHÁP QUỐC TẾ & TƯ PHÁP QUỐC TẾ

PHÂN BIỆT CÔNG PHÁP QUỐC TẾ & TƯ PHÁP QUỐC TẾ

A. CÔNG PHÁP QUỐC TẾ (LUẬT QUỐC TẾ)
1. Khái niệm Luật quốc tế

Công pháp quốc tế (hay Luật quốc tế) là ngành luật đặc biệt có nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các quốc gia có chủ quyền và các chủ thể khác tham gia quan hệ quốc tế (các dân tộc đấu tranh vì độc lập và tự do dân tộc mình và các tổ chức quốc tế). Nhưng ở đây cần phân biệt với Tư pháp quốc tế là ngành luật điều chỉnh những quan hệ mang tính chất dân luật có nhân tố nước ngoài tham gia. 

Luật quốc tế hiện đại là tổng thể những nguyên tắc, những quy phạm pháp lý được các quốc gia và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp lý quốc tế xây dựng trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, thông qua đấu tranh và thương lượng, nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủ thể của Luật quốc tế với nhau (trước tiên và chủ yếu là giữa các quốc gia) và trong những trường hợp cần thiết được bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể do chính các chủ thể của Luật quốc tế thi hành, và bằng sức đấu tranh của nhân dân và dư luận tiến bộ thế giới.


2. Chủ thể của Luật quốc tế hiện đại 
a. Quốc gia - Chủ thể của Luật quốc tế

b. Các dân tộc đang đấu tranh nhằm thực hiện quyền dân tộc tự quyết và chủ thể của Luật quốc tế hiện đại

c. Tổ chức quốc tế liên chính phủ là chủ thể đặc biệt của Luật quốc tế hiện đại:

Các tổ chức liên chính phủ là chủ thể đặc biệt của Luật quốc tế bao gồm: Tổ chức y tế thế giới (WHO), Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức giáo dục, khao học- văn hoá (UNESCO), Quỹ trẻ em Liên Hiệp Quốc (UNICEP), Cao uỷ Liên Hiệp Quốc về người tỵ nạn (UNHCR), Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP),…

d. Các vùng lãnh thổ như Đài Loan, Cantania,..

3. 07 Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế

a. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

Trong Hiến chương Liên hợp quốc, nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia là nguyên tắc của Luật quốc tế và cũng là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của tổ chức quốc tế rộng rãi này. Điều 2, khoản 2 Hiến chương ghi rõ: Liên hợp quốc thành lập trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các nước thành viên.

Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng LHQ về những nguyên tắc của Luật quốc tế giải thích nội dung của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia như sau: Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý; Mỗi quốc gia đều được hưởng đầy đủ những quyền xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền; Mỗi quốc gia đều phải có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và thiện chí những nghĩa vụ quốc tế của mình đã tự nguyện cam kết;

Nguyên tắc này biểu hiện qua những quan điểm sau đây:

- Thứ nhất, tất cả các quốc gia đều bình đẳng về mặt pháp lý.

- Thứ hai, tất cả các quốc gia đều có những quyền làm nghĩa vụ quốc tế cơ bản như nhau. 

- Thứ ba, tất cả các quốc gia đều có quyền như nhau được tôn trọng về quốc thể, về sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị độc lập.

- Thứ tư, mỗi quốc gia có quyền được tự do tham gia vào việc giải quyết vấn đề liên quan đến lợi ích của họ không một quốc gia nào có quyền trước đó của một quốc gia khác. 

- Thứ năm, khi giải quyết những vấn đề quốc tế trong phạm vi các tổ chức và hội nghị quốc tế, mỗi quốc gia đều sử dụng một lá phiếu có giá trị ngang nhau. 

- Thứ sáu, các quốc gia ký điều ước với nhau phải trên cơ sở phải bình đẳng, không có một quốc gia nào có quyền áp đặt những điều kiện không bình đẳng đối với quốc gia khác. 

b. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác

Nguyên tắc không can thiệp là tất cả các quốc giai chấp hành có nghĩa vụ không được hành động can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền của quốc gia khác.

Nguyên tắc không can thiệp là hệ quả của nguyên tắc chủ quyền quốc gia. Việc thực hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, tức là tôn trọng quyền tối cao ở trong nước và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế của quốc gia, đương nhiên phải tôn trọng hoạt động thuộc thẩm quyền nội bộ của quốc gia đó, nên đòi hỏi các quốc gia không được can thiệp vào lĩnh vực hoạt động này.

Theo tuyên bố này, nội dung của nguyên tắc không can thiệp bao gồm:

- Cấm can thiệp vũ trang và những hình thức can thiệp hoặc đe doạ can thiệp khác nhằm chống lại chủ quyền, hoặc nền tảng chính trị, kinh tế, văn hoá của quốc gia khác.

- Cấm dùng biện pháp kinh tế, chính trị,... để bắt quốc gia khác phải phụ thuộc mình.

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích, giúp đỡ những phần tử hoạt động phá hoại hoặc khủng bố nhằm lật đổ quốc gia khác.

- Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ ở các quốc gia khác.

- Mỗi quốc gia đều có quyền tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá, không có sự can thiệp của nước ngoài.

Tóm lại, nguyên tắc không can thiệp ngày nay đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và được ghi nhận trong hầu hết văn bản pháp lý quốc tế hai bên cũng như nhiều bên.

c. Nguyên tắc dân tộc tự quyết

Theo bản tuyên bố năm 1970 về những nguyên tắc của Luật quốc tế nội dung của nguyên tắc dân tộc tự quyết được giải thích như sau:

- Tất cả các dân tộc có quyền tự do quyết định quy chế chính trị của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài, và tự do quyết định sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hoá của dân tộc mình.

- Tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền này của các dân tộc.

- Tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ phải thúc đẩy các dân tộc thực hiện quyền tự quyết của họ.

- Cấm không được thống trị và bốc lột dân tộc khác. Phải xoá ngay lập tức chủ nghĩa thực dân.

- Các dân tộc thuộc địa có quyền sử dụng mọi biện pháp cần thiết để đấu tranh giành độc lập.

Sau khi giành được độc lập, các dân tộc có thể thành lập quốc gia dân tộc độc lập của mình hay liên minh với quốc gia khác đã có hoặc các dân tộc khác cũng vừa mới giành được độc lập, dưới hình thức liên bang, hợp bang,... theo cách nhìn nhận của mình.

Các dân tộc dành được độc lập chính trị và đã thành lập được quốc gia độc lập của mình có thêm một cơ sở pháp lý một vũ khí có hiệu lực để cũng cố nền độc lập chính trị của mình và đấu tranh chống lại sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc nhằm giành được chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt với toàn bộ tài nguyên thiên nhiên của dân tộc và nhằm đấu tranh thiết lập một trực tự kinh tế quốc tế mới. 

d. Nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế

Theo tuyên bố năm 1970, nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế có những nội dung sau đây:

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác, kể cả vi phạm biên giới quốc gia của nước khác, với giới tuyến ngừng bắn;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực chống lại nền độc lập chính trị của quốc gia khác;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực làm biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế;

- Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược;

- Cấm dùng vũ lực để ngăn cản các dân tộc thực hiện quyền dân tộc tự quyết cuả họ;

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích bọn phỉ, kể cả lýnh đánh thuê, để xâm lựơc lãnh thổ quốc gia khác;

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích ủng hộ hoặc tham gia vào những cuộc nội chiến hoặc khủng bố ở nước khác;

- Cấm dùng vũ lực để chiếm đóng lãnh thổ quốc gia khác một cách trái với Hiến chương Liên hợp quốc;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia khác; tức xâm lược vũ trang.

e. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hòa bình

Điều 2 khoản 3 Hiến chương Liên hợp quốc quy định: tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp của họ bằng những phương pháp hoà bình, làm sao để khỏi gây ra sự đe doạ cho hoà bình, an ninh thế giới và công lý.

Theo Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên bố năm 1970 nêu lên một số phương pháp hoà bình, đó là: đàm phán, điều tra, trung gian hoà giải, trọng tài, Tòa án thông qua cơ các quan hay hiệp định khu vực, hoặc bằng những phương pháp hoà bình khác mà các bên tự chọn. Rõ ràng, Luật quốc tế hiện đại chưa quy định hết những pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp quốc tế, mà mới chỉ nêu lên một số phương pháp thông dụng nhất và giành cho các quốc gia quyền tự lựa chọn những phương hoà bình khác mà, theo họ là hợp lý. 

Chỉ có một điều bắt buộc tất cả các quốc gia là: giải quyết tranh chấp quốc tế bằng những phương pháp hoà bình. Mọi phương pháp bạo lực, cưỡng ép doạ dẫm,... đều bị nghiêm cấm. Căn cứ vào tuyên bố năm 1970, một khi các bên tranh chấp đã sử dụng phương hoà bình này để giải quyết tranh chấp, nhưng chưa đạt được kết quả, thì phải tìm phương pháp hoà bình khác để giải quyết.

g. Nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế (Pacta Sunt Servanda)

Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda được gải thích cụ thể trong tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế có nội dung bao gồm các điểm sau:

- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện một cách thiện chí những nghĩa vụ mà mình đã cam kết phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và Luật quốc tế hiện đại. Những nghĩa vụ đã cam kết ở đây chủ yếu gồm những nghĩa vụ phát sinh từ điều ước, và những và những nghĩa vụ phát sinh từ các nguồn khác, ví dụ, từ tập quán quốc tế. Nhưng tất cả những nghĩa vụ đó phải phù hơp với những điều quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc mà trước hết là những mục đích và nguyên tắc của tổ chức này. Như vậy, đối với những nghĩa vụ không phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc thì sẽ không được thi hành.

- Các quốc gia cũng sẽ không thi hành các cam kết bất bình đẳng. Lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy không ít những điều ước quốc tế không hợp pháp ví dụ hiệp ước Munich ngày 29/9/1938. Những điều ước như vậy không có giá trị pháp lý cho nên không thể ràng buộc các bên đã ký kết. Vì vậy các quốc gia không có nghĩa vụ phải thực hiện chúng.

- Nếu những cam kết phát sinh từ điều ước quốc tế trái với những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc thì những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc sẽ được ưu tiên thi hành. Việc tham gia Liên hợp quốc không cản trở các quốc gia ký kết những điều ước song phương, cũng như đa phương. Nhưng nội dung của những điều ước này không được trái với Hiến chương Liên hợp quốc(Điều 52 Hiến chương Liên hợp quốc). Do vậy, trong trường hợp những cam kết phát sinh từ điều ước quốc tế trái với nhưng cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc quy định, thì những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc sẽ được ưu tiên thi hành một cách nghiêm chỉnh (Điều 103 hiến chương liên hợp quốc).

- Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda cũng không áp dụng với những điều ước khi ký kết vi phạm những quy định về thẩm quyền và thủ tục ký kết chúng. Trong thực tiễn, điều ước quốc tế, cam kết quốc tế cũng có thê không được thi hành khi những điều kiện để thi hành nó đã thay đổi về cơ bản (Rebus Sic Stantibus). Ví dụ như Hoa Kỳ đã hủy bỏ TTP khi Tổng thống mới đắc cử.

h. Các quốc gia có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau 

B.TƯ PHÁP QUỐC TẾ
1. Khái niệm Tư pháp quốc tế

Tư pháp quốc tế là một bộ môn khoa học pháp lý độc lập và là một ngành luật độc lập bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài.

a. 09 chế định cơ bản mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh là các quan hệ sau:

- Một là, địa vị pháp lý của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài.

- Hai là, về sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài.

- Ba là, về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

- Bốn là, pháp luật về thanh toán quốc tế

- Năm là, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng

- Sáu là, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

- Bảy là, thừa kế tài sản

- Tám là, lao động có yếu tố nước ngoài

- Chín là,về tố tụng dân sự quốc tế.

b. Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

Sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia là hiện thực tất yếu khách quan trong mọi thời đại. Tất cả các lĩnh vực quan hệ pháp lý giữa các quốc gia thuộc đối tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế nhưng những quan hệ pháp lý giữa công dân và pháp nhân phát sinh trong đời sống quốc tế thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là những quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài được khẳng định tại Điều 758 Bộ luật dân sự 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: “... Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.

Theo Điều 663 BLDS 2015 thì có 3 loại yếu tố nước ngoài mà một quan hệ dân sự có sự hiện diện của một trong ba loại yếu tố đó thì thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Đó là:

- Thứ nhất, chủ thể là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

- Thứ hai, khách thể của quan hệ pháp lý ở nước ngoài (ví dụ di sản thừa kế ở nước ngoài,..).

- Thứ ba, sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài (hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Hoa Kỳ ...).

c. Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

- Phương pháp xung đột: Các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến một hay nhiều quốc gia khác nghĩa là liên quan đến các hệ thống pháp luật khác nhau. Vấn đề đặt ra là cần phải chọn luật pháp nước nào áp dụng để giải quyết quan hệ dân sự đã phát sinh. Việc chọn luật áp dụng phải căn cứ vào quy phạm xung đột. Quy phạm xung đột là loại quy phạm đặc thù của Tư pháp quốc tế. Như vậy, phương pháp xung đột là phương pháp áp dụng các quy phạm pháp luật xung đột nhằm điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế.

- Phương pháp thực chất: Đây là phương pháp áp dụng các quy phạm pháp luật thực chất. Khác với quy phạm xung đột, quy phạm thực chất trực tiếp điều chỉnh và quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ pháp luật cụ thể. Quy phạm pháp luật thực chất bao gồm: quy phạm thực chất thống nhất (được ghi nhận trong Điều ước quốc tế) và quy phạm thực chất thông thường (được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc gia).

d. Chủ thể của Tư pháp quốc tế

Chủ thể của Tư pháp quốc tế là bộ phận cấu thành cơ bản của quan hệ Tư pháp quốc tế, là thực thể đang hoặc sẽ tham gia trực tiếp vào các quan hệ Tư pháp quốc tế một cách độc lập có các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định được bảo vệ theo các quy định của Tư pháp quốc tế và có khả năng độc lập chịu trách nhiệm pháp lý theo qui định của pháp luật đối với những hành vi do chủ thể đó gây ra.

Chủ thể của Tư pháp quốc tế bao gồm thể nhân, pháp nhân và nhà nước (vùng lãnh thổ). Thể nhân và pháp nhân là chủ thể cơ bản, nhà nước (vùng lãnh thổ) là chủ thể đặc biệt.

e. Nguồn của Tư pháp quốc tế

- Luật pháp của mỗi quốc gia

- Điều ước quốc tế

- Thực tiễn tòa án và trọng tài (án lệ)

- Tập quán

Nguồn của Tư pháp quốc tế mang hai tính chất: Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế mang tính chất điều chỉnh quốc tế;  Luật pháp của mỗi quốc gia mang tính chất điều chỉnh quốc nội. Mối tương quan giữa 2 tính chất trên đây của nguồn tư pháp quốc tế thể hiện rõ từ Điều 664 đến Điều 670 v của Bộ luật dân sự 2015.

Thứ Năm, 21 tháng 9, 2017

Hiến pháp 2013 về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam


Hiến pháp 2013 về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam


(LLCT) - Khi bàn về nhà nước pháp quyền, trong giới nghiên cứu khoa học chính trị vẫn còn những quan điểm khác nhau: Loại quan điểm thứ nhất cho rằng, Nhà nước pháp quyền là một loại hình nhà nước (một kiểu nhà nước)(1) -với quan điểm này, có thể hiểu, trên thế giới chỉ có một loại hình nhà nước pháp quyền; loại quan điểm thứ hai cho rằng, Nhà nước pháp quyền là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ.Từ đó, khẳng định không chỉ có nhà nước pháp quyền tư sảnmà có cả nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (2).


Nhìn chung các khảo cứu về nhà nước pháp quyền đều thống nhất khẳng định các tiêu chí hay đặc điểm cơ bản như sau: 1) Luật pháp giữ vị trí tối cao đối với nhà nước và xã hội; 2) Nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước; 3) Nhà nước đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân; 4) Có sự phân quyền rõ ràng giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; 4) Nhà nước có khả năng cao nhất trong việc chống lại xu hướng độc quyền về quyền lực và xu hướng quan liêu hóa bộ máy quyền lực(3)…

Hiến pháp là đạo luật cơ bản có giá trị pháp lý cao nhất của các quốc gia, quy định về chế độ chính trị - xã hội, chế độ nhà nước và các nguyên tắc cơ bản về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước; quy định địa vị pháp lý của con người, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân... So sánh với các bản Hiến pháp trước đây trên cơ sở những nhận thức chung như vậy, có thể thấy những điểm mới của Hiến pháp 2013 về Nhà nước pháp quyền ở Việt Namnhư sau:

1) Về bản chất Nhà nước Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân (Khoản 1, Điều 2)(4).

Nhìn lại lịch sử Hiến pháp Việt Nam kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cho thấy tiến trình vận động về thể chế nhà nước Việt Nam như sau: Hiến pháp năm 1946, quy định: Nước Việt Nam là “nước dân chủ cộng hòa”; Hiến pháp năm 1959, quy định, là “nước dân chủ nhân dân”; Hiến pháp năm 1980 quy định là “Nhà nước chuyên chính vô sản”; Hiến pháp năm 1992 quy định là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(Điều 2). Năm 2001, Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung bằng quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(5).

Như vậy, về mặt pháp lý,Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam chính thức được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Đã sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Quốc hội).Và quy định này được nhắc lại trong Hiến pháp năm 2013.

Bàn về phát triển tư duy nhà nước pháp quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, có ý kiến cho rằng phải đến Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), Đảng mới dùng khái niệm Nhà nước pháp quyền (NNPQ), vì “băn khoăn chủ yếu là coi nhà nước pháp quyền là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản nên ngại tiếp thu, kế thừa”(6. Nhưng thực tế cho thấy, một tháng sau khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng kết thúc, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền đã được Tổng Bí thư Đỗ Mười chính thức đề cập trong bài phát biểu tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII (ngày 27-7-1991), như sau: “Quốc hội cần hướng vào việc thực hiện hai yêu cầu cơ bản: Một là,xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước có năng lực định ra một hệ thống luật pháp đồng bộ đáp ứng được yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội và quản lý mọi mặt xã hội văn minh, tiến bộ... Hai là,bảo đảm quyền lực và hiệu lực trên thực tế của Quốc hội, do Hiến pháp quy định”(7). Hơn hai năm sau, Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1-1994) nêu chủ trương “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật”(8).

Từ đó, cho thấy: Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đã được Đảng Cộng sản Việt Nam, với tư cách là Đảng chính trị cầm quyền, chính thức đặt ra và chỉ đạo triển khai vào nửa cuối năm 1991.Sau đó được tiếp tục quán triệt thực hiện qua các kỳ đại hội Đảng và hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đặc biệt là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(Bổ sung, phát triển năm 2011), đã xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dânlà một trong tám phương hướng cơ bản nhằm xây dựng Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa(9).

2) Về chủ thể của quyền lực nhà nước, Hiến pháp năm 2013, quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Khoản 2, Điều 2)(10[1]). Quy định này đã phản ánh địa vị chính trị - pháp lý của nhân dân Việt Nam là chủ thể của quyền lực trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước; các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Những quy định nêu trên tạo cơ sở hiến định cho việc tiếp tục thể chế hóa các luật có liên quan về quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.

Các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992, với những cách diễn đạt khác nhau, đều quy định quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân(*). Nhưng phải đến Hiến pháp năm 2013 mới quy định cụ thể cơ chế để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước của mình; đó là, dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện; là các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải chịu sự giám sát của nhân dân; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân...

3) Về vấn đề phân quyền giữa các cơ quan quyền lực nhà nước, Khoản 3, Điều 2 Hiến pháp năm 2013, quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(11).

Trước đó, Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi, bổ sung năm 2001), đã có quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(12). Đến Hiến pháp năm 2013, được bổ sung thêm hai từ “kiểm soát”, với ý nghĩa là kiểm soát quyền lực.Đây là lần đầu tiên “kiểm soát quyền lực” được coi là nguyên tắc hiến định, là cơ chế để các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp thực thi có hiệu lực, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tránh việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực.

Hiến pháp năm 2013 quy định rõ thẩm quyền của các nhánh quyền lực trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, như: Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp; Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội; Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp(13).

Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã có sự phân công (phân quyền) khá rõ ràng giữa các nhánh quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam “là cơ sở quan trọng để các cơ quan phối hợp với nhau nhịp nhàng hơn. Đồng thời, một cơ chế kiểm soát quyền lực đã được xác định, trong đó quyền của nhân dân với tư cách là chủ nhân của tất cả quyền lực Nhà nước được đề cao, các hình thức dân chủ được mở rộng. Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên được khẳng định”(14).

4)Về vị trí của pháp luật đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ (Khoản 1, Điều 8); các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam - với tư cách là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật (Khoản 3, Điều 4); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật (Khoản 3, Điều 9)(15).

Trước đó, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 cũng đã có quy định: Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật(16). Tuy nhiên, so với Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, cho thấy những quy định trong Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện mạnh mẽ hơn sự đề cao vị trí của Hiến pháp và pháp luật. Tính pháp chế trở thành một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước Việt Nam, thể hiện bước phát triển tư duy chính trị - pháp lý về nhà nước pháp quyền của Hiến pháp năm 2013.

Trong quan hệ với cộng đồng thế giới, Hiến pháp năm 2013 quy định:Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuân thủ Hiến chương Liên Hợp quốc và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới (Điều 12)(17). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Hiến pháp Việt Nam kể từ năm 1945, vấn đề tuân thủ Hiến chương Liên Hợp quốc và điều ước quốc tếđược quy định trong Hiến pháp Việt Nam(18).

5) Về vấn đề quyền con người, quyền công dân,Hiến pháp năm 2013 quy định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (Khoản 1, Điều 14); mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Khoản 1, 2, Điều 16)(19).

So với các Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, như: khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người; làm rõ nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa và trách nhiệm của Nhà nước, xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người; thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân. 

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hàm chứa những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền nói chung. Nhưng bên cạnh đó, mô hình này cũng có những điểm đặc thù như: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước([1]20); và một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng Hiến pháp là thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng(21[1]). Từ đó đặt ra vấn đề là phải xác định một cách khoa học mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hiệu quả lãnh đạo của Đảng như thế nào để bảo đảm hiệu lực và hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này đòi hỏi phải đổi mới hơn nữa phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2015

(1) Xem thêm: Nguyễn Khắc Viện (Chủ biên): Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1994, tr.207-208.

(2) Xem thêm: GS,Viện sĩ Nguyễn Duy Quý: “Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Triết học,số 11 (198), 2007.

(3) Ngoài ra có ý kiến cho rằng, Nhà nước pháp quyền có những đặc tính như: 1) Tính tối cao của Hiến pháp; 2) Nhà nước pháp quyền có mục tiêu đảm bảo quyền tự do và bình đẳng của con người, đối lập với nhà nước bạo lực, nhà nước độc tài; 3) Nhà nước pháp quyền là nhà nước chống lạm quyền, nhà nước phải được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền. Xem thêm: PGS,TS Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên): Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền,Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2007, tr.63-67. 

(4), (10), (11), (13), (15), (17), (21) Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.8, 8, 9, 32 và 49 và 54-55, 10-11-12, 13, 8.

(5), (12), (16) Trích từ: Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và các Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992),Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.199, 199, 72-73 và 128-129.

(6) Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Triết học: Nhà nước pháp quyền một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.536.

(7) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Lưu hành nội bộ, 1-1994, tr.56.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.340.

(9) ĐCSVN: Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.72.

(*) Hiến pháp năm 1946 quy định: Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo; Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia; Hiến pháp năm 1959, quy định: Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều thuộc về nhân dân; Hiến pháp năm 1980, quy định: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân (Điều 6); Hiến pháp năm 1992, quy định:Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức (Điều 2), Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và các Hiến pháp Việt Nam (1946,1959,1980,1992), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.12, tr.15, tr.31, tr.70, tr.125.

(14) Hoàng Thế Liên: Những điểm mới của Hiến pháp (sửa đổi) về Chính phủ, truy cập ngày 25-03-2014, http://www.nhandan.com.vn.

(18) Từ Hiến pháp năm 1980 mới có quy định về quan hệ của nước Việt Nam với cộng đồng quốc tế, nhưng không đề cập vấn đề tuân thủ Hiến chương Liên Hợp quốc và điều ước quốc tế.

(19) Trong Hiến pháp năm 2013 các quyền con người, quyền công dân được quy định một cách cụ thể: Mọi người có quyền sống, tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật (Điều 19); mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm (Điều 20); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21); công dân có quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22); mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Điều 24); công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 25); công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt (Điều 26); công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp (Điều 32); quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc (Điều 35); quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41), quyền xác định dân tộc (Điều 42), quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43)... Trích trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.14,15, 16-23.

(20) Điều 4 của Hiến pháp năm 2013, quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.9.


PGS, TS Đinh Xuân Lý
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
Đại học quốc gia Hà Nội

Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2017

Luật sư Francis Henry Loseby (1883-1967)

Luật sư Francis Henry Loseby (1883-1967), ân nhân đã cứu Bác Hồ khỏi nhà tù của thực dân Anh trong vụ án xâm phạm an ninh quốc gia ở An Nam -“Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” (1931-1933 , xem thêm bài 80 Năm Trước Thực Dân Xét Xử Ra Sao? tại link http://sachhiem.net/LICHSU/T/TinChungta.php), sinh trưởng ở nước Anh, làm luật sư trong quân đội hoàng gia trong Thế chiến I, năm 1926 sang Hồng Kông, lúc đó là thuộc địa của Anh trên lãnh thổ Trung Quốc và mở văn phòng luật sư. Trước vụ án “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông", ông đã từng cãi giúp một người Việt Nam thoát khỏi bản án trao cho thực dân Pháp.
Khi gặp Bác Hồ ở trong tù, Luật sư Loseby nói: "Tôi nhận giúp vì danh dự chứ không phải vì tiền". Luật sư nói: "Tôi sẽ ra sức cứu giúp, mong người tù hãy tin tưởng và hãy nói, cung cấp cho luật sư những điều gì có thể giúp trong việc bênh vực…và rằng ông biết mỗi người cách mạng đều có bí mật riêng của họ, nên đã không muốn hỏi thêm nhiều nữa…"
Thời kỳ phát xít Nhật xâm lược Trung Quốc, ông đã từng tham gia đội quân tình nguyện bảo vệ Hồng Kông vì thế bị Nhật bắt giam từ 1/1942 đến 8/1945. Ông sống ở Hồng Kông cho đến lúc qua đời năm 1967. 

Hình ảnh có liên quan
Năm 1960, sau khi đã cho người tìm được gia đình luật sư Loseby ở Hồng Kông, Bác viết thư mời sang thăm Việt Nam vào dịp Tết Nguyên đán. Ngày 26/1/1960, ông bà Loseby cùng con gái đến Hà Nội, Bác Hồ ra tận sân bay đón và đưa về nhà khách. Những ngày tiếp theo Bác dẫn gia đình ân nhân của mình đi thăm nhiều nơi và ngày 3/2 tiễn trở về Hồng Kông. 


Trong buổi đến thăm và gặp gỡ cán bộ công nhân Nhân Nhà máy Cơ khí Trung quy mô ở Hà Nội, ngày 2/2/1960, Bác Hồ mào đầu: “Bác xin giới thiệu với các cô chú, đây là luật sư Loseby, ân nhân của Bác. Nếu không có luật sư thì chưa biết Bác sống chết ra sao?...”. Còn vị luật sư người Anh thì bày tỏ: “Các bạn rất may mắn có một vị lãnh tụ rất vĩ đại và tốt là Hồ Chủ tịch... Khi gặp Hồ Chủ tịch chúng tôi rất cảm động nhưng chúng tôi không lạ vì chúng tôi thường được xem ảnh luôn và chúng tôi xem Bác như người nhà của chúng tôi. Hồ Chủ tịch là một người bất cứ ở đâu và trong hoàn cảnh nào cũng làm cho mọi người mến phục. Không phải bây giờ, ở đây như vậy mà trước kia khi ở Hương Cảng, trong hoàn cảnh khó khăn cũng vậy. Hồ Chủ tịch có cái biệt tài là làm cho mọi người đều cười được từ các em thiếu nhi hôm chúc Tết ở Chủ tịch phủ, đến các em nhi đồng ở Trại nhi đồng miền Nam và đến cả các anh em công nhân Nhà máy Trung quy mô cũng vậy. Hồ Chủ tịch có thể làm cho mọi thứ đều cười... Đến Việt Nam, tôi thấy một điều làm cho tôi thấy đặc biệt là mọi người đều vui vẻ, ai cũng có nụ cười trên môi... Nhiều điều tôi mới được thấy lần đầu và vượt quá ý nghĩ của chúng tôi... Tôi có thể kết luận rằng đó là kết quả của cả cuộc đời hy sinh của Hồ Chủ tịch cho nhân dân Việt Nam”. 


Sau chuyến thăm Việt Nam theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi trở về đã viết thư cảm ơn Bác, trong lá thư có đoạn: “Ngài nói rằng tôi đã “cứu sống Ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà tôi đã từng làm, và mãi mãi là một việc làm sáng suốt...”. 


Thứ Bảy, 22 tháng 4, 2017

Xung đột về đất đai là dạng phổ biến của “mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân” ở nước ta hiện nay. Và kinh nghiệm giải quyết xung đột về đất đai ở các nước láng giềng.

Xung đột về đất đai là dạng phổ biến của “mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân” ở nước ta hiện nay. Và kinh nghiệm giải quyết xung đột về đất đai ở các nước láng giềng. 

Đất đai có một vị trí đặc biệt đối với con người, xã hội ở bất kỳ thời đại nào và ở bất cứ quốc gia nào. Việc giữ gìn, bảo vệ lãnh thổ quốc gia luôn là nhiệm vụ thiêng liêng của cả cộng đồng cũng như của từng người dân trong cộng đồng. Xã hội càng phát triển, nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng. Chính vì vậy, hiện nay, nhân loại đã bước sang thiên niên kỷ thứ ba, nhưng ở trên phạm vi quốc tế, nhiều tranh chấp, xung đột về biên giới, biển, thềm lục địa, các hòn đảo vẫn đang diễn ra ngày càng khốc liệt. Trong từng quốc gia, những tranh chấp về đất đai vẫn diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, ở những mức độ khác nhau. Đặc biệt, ở các quốc gia đang phát triển, nhu cầu sử dụng đất vào việc xây dựng các cơ sở công nghiệp, thương mại, du lịch, văn hóa, giao thông,... tăng nhanh với tốc độ chưa từng có.Điều này đã làm cho một phần đáng kể đất đai bị chuyển đổi từ đất ở, đất canh tác, đất tư nhân sang các loại đất sử dụng khác với chủ sở hữu hoặc sử dụng khác, tạo nên những sự đảo lộn của cuộc sống không ít hộ dân cư. Đồng thời, những tác động tiêu cực khác trong quá trình thu hồi đất, sử dụng đất, quản lý đất... đã làm cho nhiều mâu thuẫn xã hội, xung đột xã hội nảy sinh. 



Ở Việt Nam, trong lịch sử cũng như hiện tại vấn đề đất đai luôn nổi cộm. Những mâu thuẫn, những tranh chấp, xung đột về đất đai diễn ra khá phức tạp. Số vụ khiếu nại, tố cáo liên quan tới vấn đề đất đai chiếm tỷ lệ cao trong các loại khiếu kiện. Điều này cho thấy những hạn chế của nước ta trong việc quản lý đất đai. 

1. Xung đột về đất đai là dạng phổ biến của “mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân” ở nước ta hiện nay 

1.1. Quan điểm macxit về tính phổ biến của mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân: 

Mâu thuẫn là hiện tượng tồn tại khách quan trong tự nhiên, xã hội và trong tư duy. Trong xã hội, mâu thuẫn không những chỉ tồn tại giữa các giai cấp đối kháng nhau, giữa nhân dân với kẻ thù, mà ngay trong nội bộ nhân dân cũng có mâu thuẫn. Song, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân khác căn bản về chất so với mâu thuẫn giữa nhân dân với kẻ thù hay mâu thuẫn đối kháng nói chung. Việc sử dụng khái niệm “mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân” trước hết là nhằm mục đích phân biệt với mâu thuẫn địch – ta trong đấu tranh cách mạng. Nếu không thấy sự khác nhau giữa hai loại mâu thuẫn đó, người ta sẽ mắc sai lầm khi lựa chọn phương pháp giải quyết chúng trong hoạt động thực tiễn. Mặt khác, cũng là sai lầm nếu phủ nhận hoặc che giấu sự tồn tại của mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, nếu chỉ thừa nhận sự nhất trí về lợi ích căn bản trong nội bộ nhân dân. 

Thực tế cho thấy, những điểm xảy ra mâu thuẫn phức tạp trong nội bộ nhân dân chủ yếu là nơi chứa đựng, hội tụ những thắc mắc, khiếu kiện của quần chúng chưa được giải quyết kịp thời, hoặc đã giải quyết nhưng chưa triệt để, dứt điểm, dẫn đến tình trạng khiếu kiện tập thể, khiếu kiện vượt cấp gây mất trật tự trị an ở nhiều nơi. Nguyên nhân của các mâu thuẫn đó, xét đến cùng, đều bắt nguồn hoặc là từ chính quyền hoặc là từ nhân dân. Về phía chính quyền, đó là những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý cũng như trong các chủ trương, chính sách, pháp luật đã tạo “kẽ hở” cho một số cán bộ có chức quyền nhưng đã thoái hoá, biến chất lợi dụng để trục lợi, tham nhũng, khiến quần chúng bất bình và đấu tranh. Về phía nhân dân, nguyên nhân là do trình độ dân trí và ý thức pháp luật của phần lớn trong số họ chưa cao, còn bất cập với quá trình mở rộng dân chủ. Từ đó, dẫn đến sự nhận thức và hành động lệch lạc của một bộ phận nhân dân. 

Những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân có thể phát triển thành “điểm nóng xã hội” hoặc “điểm nóng chính trị – xã hội” nếu như chúng không được giải quyết kịp thời, thích hợp, triệt để. Thực chất, điểm nóng xã hội là nơi mà mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân diễn biến gay gắt, quyết liệt, bùng nổ thành sự tranh chấp, gây rối, xung đột, gây hậu quả xấu về chính trị, kinh tế – xã hội và an ninh nông thôn. 

Bản chất của mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân là một loại mâu thuẫn không đối kháng, vì lợi ích căn bản, hợp pháp của các bộ phận nhân dân về cơ bản là thống nhất với nhau và thống nhất với lợi ích chung của cộng đồng. Tuy nhiên, với tính chất biện chứng của mình, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân - nếu không được giải quyết đúng đắn và kịp thời, sẽ có khả năng chuyển hoá thành mâu thuẫn đối kháng. Một số học giả cho rằng, “sai lầm trong đường lối, chính sách của nhà nước có thể làm cho mâu thuẫn vốn không đối kháng trở thành đối kháng”; thậm chí “sự kích động của các phần tử cực đoan, quá khích có thể đưa mâu thuẫn hiện tượng từ chỗ không đối kháng trở thành đối kháng”. Hoặc, ngay cả khi "con người không biết điều hoà lợi ích của mình thì những mâu thuẫn không đối kháng giữa họ đều có thể chuyển thành các mâu thuẫn đối kháng”. 

Nếu vì những lý do nào đó mà các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân chậm hoặc không được giải quyết kịp thời, triệt để và do vậy, trở thành những “điểm nóng” thì chúng sẽ có khả năng chuyển hoá thành mâu thuẫn đối kháng. Trong những trường hợp như vậy, vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn và chứa đựng nhiều nguy cơ không thể lường hết. 

1.2. Mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân ở nước ta thể hiện tập trung dưới một số dạng cơ bản sau đây: 

- Một là, mâu thuẫn giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội với nhau trong nền kinh tế thị trường hiện nay; 

- Hai là, mâu thuẫn giữa bộ phận nhân dân với một số cán bộ làm công tác lãnh đạo, quản lý có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, sách nhiễu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; 

- Ba là, mâu thuẫn giữa các bộ phận nhân dân trong cùng một địa phương hoặc giữa các địa phương nảy sinh chủ yếu do tranh chấp đất đai, dẫn đến xô xát tập thể, thậm chí xảy ra những vụ trọng án làm tình hình an ninh trật tự trên địa bàn trở nên phức tạp; 

- Bốn là, mâu thuẫn giữa một số cơ quan, doanh nghiệp với nhau hoặc giữa cơ quan, doanh nghiệp với nhân dân địa phương. Nguyên nhân chủ yếu của dạng mâu thuẫn này là do tranh chấp đất đai và những bất đồng trong việc đền bù đất đai, giải phóng mặt bằng xây dựng giữa doanh nghiệp với người dân. Vì thế, nhân dân thuộc diện giải toả có những biểu hiện bất bình, phản ứng, khiếu kiện kéo dài, khiếu kiện vượt cấp. Tình trạng đó, một mặt, gây nên sự phức tạp về an ninh trật tự; mặt khác, gây thiệt hại về kinh tế cho cả người thuộc diện được đền bù lẫn các chủ thể phải thực hiện sự đền bù (Nhà nước, tập thể, cá nhân); 

- Năm là, mâu thuẫn giữa bộ phận quần chúng giáo dân với cơ quan nhà nước, liên quan đến đất đai, nhà thờ, hoạt động tôn giáo. Biểu hiện của dạng mâu thuẫn này trong thời gian vừa qua là tình trạng khiếu kiện của giáo dân trong một số tôn giáo đòi lại, xin lại các cơ sở vật chất (chủ yếu là đất đai) trước đây đã hiến nhượng cho nhà nước; 

- Sáu là, mâu thuẫn liên quan đến quần chúng nhân dân là người dân tộc thiểu số, phát sinh chủ yếu do tranh chấp đất đai giữa một số đồng bào dân tộc với một số nông trường hoặc với bộ phận dân di cư tự do trên địa bàn. 

1.3. Một số yêu cầu cơ bản khi giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân: 

- Thứ nhất, việc giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của các cấp uỷ Đảng, chính quyền; sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ của các ban ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội; 

- Thứ hai, việc giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân chủ yếu được thực hiện bằng các phương pháp giáo dục, thuyết phục, đấu tranh tự phê bình; bằng việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tuyệt đối không sử dụng biện pháp trấn áp bằng bạo lực; 

- Thứ ba, việc giải quyết mâu thuẫn đó phải dựa trên cơ sở phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đồng thời, tăng cường hiệu lực của pháp chế để đảm bảo kỷ cương phép nước. Một mặt, phải phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm khắc những trường hợp cán bộ lợi dụng chức quyền để tham nhũng hoặc vi phạm pháp luật… gây bất bình cho nhân dân; mặt khác, phải chú trọng công tác giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng vi phạm dân chủ; 

- Thứ tư, việc giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân phải thận trọng và được cân nhắc kỹ lưỡng nhằm đảm bảo các yêu cầu chính trị và pháp luật. Muốn vậy, chúng ta phải nắm chắc tình hình diễn biến của mâu thuẫn, phân tích nguyên nhân sâu xa, trực tiếp, nhận dạng đúng mâu thuẫn, phân loại mâu thuẫn… để xác định phương châm chỉ đạo sát hợp, lựa chọn phương pháp giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực hiện nhanh gọn, hiệu quả. 

2. Kinh nghiệm giải quyết xung đột về đất đai ở các nước láng giềng. 

Trên thế giới và một số quốc gia trong khu vực đã xử lý tốt vấn đề này, không chỉ hạn chế được những xung đột xã hội về đất đai mà còn góp phần tích cực vào sự ổn định xã hội, tập trung sức người, sức của cho việc đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội. Kinh nghiệm của các nước sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ hơn những ưu điểm và hạn chế của mình và trên cơ sở đó, gợi mở những giải pháp để hạn chế và giải tỏa xung đột một cách hiệu quả hơn. 

Trong quá trình phát triển, quốc gia nào cũng gặp phải những vấn đề phức tạp về đất đai và việc giải quyết vấn đề này vừa đa dạng lại vừa có những điểm chung mà chúng ta có thể tham khảo như sau: 

- Vấn đề đất đai là vấn đề cơ bản và hệ trọng trong quá trình phát triển, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa. Vì vậy, các hình thức sở hữu về đất đai ở các quốc gia dù rất đa dạng, song đều phải đặt dưới sự quản lý và điều phối thống nhất của nhà nước, nhà nước phải là người chịu trách nhiệm trước toàn xã hội trong việc quản lý đất đai để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước và đảm bảo cuộc sống của người dân. 

- Công cụ quản lý cơ bản của nhà nước là các văn bản pháp lý bao gồm: các bộ luật, quy hoạch phát triển của quốc gia, các chính sách về thuế, các nguyên tắc cơ bản của việc xác định giá đền bù cho các hộ dân có phần đất bị thu hồi, giải tỏa... Các văn bản này phải đồng bộ, thống nhất và được thực hiện nghiêm túc từ trung ương đến địa phương và đến từng người dân. 

- Cơ sở để xây dựng các văn bản pháp lý, các quy hoạch phát triển là bảo đảm lợi ích quốc gia và lợi ích chính đáng của dân cư, những người sở hữu và sử dụng đất; kết quả khảo sát, nghiên cứu khoa học; ý kiến tham gia của mọi người dân... Vì vậy, các văn bản này phải được xây dựng theo những quy trình xác định và đặc biệt phải được xây dựng công khai, minh bạch. 

- Trong quá trình đô thị hóa, giá cả đất đai có thể tăng lên một cách bất thường, những người có tiền có thể thao túng thị trường đất, các văn bản pháp lý của nhà nước phải tập trung vào những vấn đề cốt yếu nhất như chống đầu cơ đất đai, tránh sự thiếu khách quan và gây thiệt thòi cho người dân có đất bị thu hồi, giải tỏa. Những chính sách rất tích cực của Hàn Quốc, chính sách đánh thuế lợi tức vào bất động sản của Malaysia... là bài học quý về vấn đề này. 

- Mọi văn bản của nhà nước dù được xây dựng công phu đến mấy, cũng không thể dự báo, tính toán được toàn bộ những biến đổi của thực tiễn, vì vậy phải luôn có sự điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. Vì vậy, giá đền bù đất đai bị thu hồi, giải tỏa của Hàn quốc, Singapore,.. đều khá linh hoạt. Chính điều này đã không tạo nên những bức xúc trong nhân dân và hạn chế, thậm chí khắc phục được các hiện tượng xung đột về đất đai. 

Thực tế Việt Nam đã trải qua những “cơn sốt” về đất đai và hiện nay thị trường bất động sản chưa hồi phục.Thực tế đặt ra yêu cầu nghiên cứu một cách nghiêm túc, tìm ra được những giải pháp phù hợp với đất nước, khắc phục những hiện tượng tiêu cực về đất đai, tạo được sự đồng thuận xã hội, đưa đất nước vượt qua những khó khăn thách thức, phát triển nhanh và vững chắc. 

2.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc 

Hiện nay, Hàn Quốc có nền kinh tế lớn đứng thứ 4 ở châu Á và thứ 15 trên thế giới. Cách đây hơn 5 thập niên, tình hình Hàn Quốc có những vấn đề tương tự như Việt Nam hiện nay, đặc biệt là vấn đề đất đai. Trong các thập niên 60 - 90 của thế kỷ XX, quá trình đô thị hóa đã diễn ra mạnh mẽ, diện tích lớn đất đai phải chuyển đổi để xây dựng hạ tầng hoặc phát triển kinh tế, làm cho giá đất ở đô thị tăng nhanh. Lợi dụng tình hình này, các hoạt động đầu cơ đất đai đã diễn ra trên phạm vi lớn. Đầu cơ đất đai đã gia tăng đến mức trở thành vấn đề chính trị - xã hội quan trọng, tạo nên tâm trạng bất an trong nhân dân. Những người có thu nhập thấp, không có hy vọng sở hữu một căn hộ hoặc một lô đất nhỏ để làm nhà ở. Điều đó gây nên cả những bức xúc, những bất bình trước những bất công của xã hội. Quần chúng nông dân ở vùng ven đô bị mất nhiều đất canh tác hoặc đất ở, nhưng giá cả đền bù lại không thỏa đáng, họ gặp khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt là rất nhiều người không thể có đủ những điều kiện để tái tạo cuộc sống sau khi đất đai đã bị thu hồi... Thực tế này đã trở thành nguồn gốc sâu xa của các cuộc xung đột xã hội. 

Khi nhận thức được nguy cơ đó, để tránh tình trạng xung đột xã hội có thể xảy ra, Chính phủ Hàn Quốc đã có những giải pháp kịp thời để khắc phục. Trong suốt hai thập kỷ (từ 1960 - 1980), Chính phủ đã ban hành nhiều sắc lệnh đất đai, đặc biệt, ban hành các quy định liên quan đến giao dịch bất động sản, đến hệ thống ấn định giá đất chuẩn và giá đất đền bù. Tuy nhiên, những sắc lệnh và những quy định của Chính phủ Hàn Quốc nói trên chỉ có hiệu quả trong một thời gian ngắn và sau đó nó mất dần hiệu quả. 

Đến đầu năm 1987, tình trạng phân hóa giàu - nghèo, sự tích tụ các mâu thuẫn xã hội trở thành những vấn đề xã hội nổi cộm, nghiêm trọng. Chính phủ Hàn Quốc đã nhận thấy, tình trạng này không chỉ gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế mà còn có thể phá vỡ cả cơ cấu chính trị, xã hội của quốc gia. Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào việc tìm ra các giải pháp khắc phục nguy cơ nói trên. Từ kết quả của nhiều công trình nghiên cứu ấy, Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng một hệ thống các chính sách, những quy định hướng vào những mục tiêu chủ yếu là chống đầu cơ đất đai và giải quyết một cách thỏa đáng lợi ích của những hộ dân có đất đai bị thu hồi, giải tỏa. 

Những chính sách mới được ban hành năm 1989 là: 

- Để đảm bảo cho việc xác định giá đất có được tính khách quan, tất cả các hệ thống định giá đất của Chính phủ được hợp nhất lại thành một hệ thống duy nhất. Hệ thống giá mới này phản ánh đúng giá trên thị trường của đất được chuyển đổi (thu hồi, giải tỏa) và là cơ sở để tính thuế đất. 

- Để giúp cho các cơ quan quản lý kiểm soát được tổng diện tích đất của từng chủ sở hữu đồng thời cũng để có thể xác định thuế lũy tiến đối với những diện tích đất đầu cơ, thuế đất được đánh trên tổng diện tích của tất cả các lô đất thuộc một chủ sở hữu (dù chúng ở các vị trí khác nhau). Cùng với quy định này còn có đạo luật quy định rõ giới hạn việc sở hữu đất. Theo đạo luật này, mỗi chủ thể sở hữu đất (hộ gia đình hay công ty) không được sở hữu một diện tích đất vượt quá 200 py-ôm (660m2). Phần đất sở hữu vượt quá giới hạn này sẽ bị đánh thuế rất cao hoặc được đề nghị bán cho chủ khác. 

- Để đảm bảo những lợi ích chính đáng của các hộ dân có đất đai bị thu hồi, giải tỏa, chính phủ quy định: 

Việc định giá bồi thường là do các chuyên gia đảm nhiệm. Việc định mức bồi thường sẽ được tính là mức trung bình của các định giá. 

Hình thức bồi thường chung là bằng tiền mặt. Tuy nhiên, các chủ sở hữu tài sản bị thu hồi có thể lựa chọn các hình thức khác, như đất đai hoặc nhà ở xã hội. Đối với đất nông nghiệp, khoản bồi thường được tính trên cơ sở 2 lần tổng thu nhập hàng năm từ sản xuất nông nghiệp và được tính toán đầy đủ để hỗ trợ người nông dân phục hồi việc sản xuất của mình. 

Mức bồi thường: Việc bồi thường đất ở tính theo giá thị trường. Các công trình xây dựng sau thời điểm công bố dự án sẽ không được bồi thường. Các công trình xây dựng không phép từ ngày công bố được cho là hợp pháp và sẽ được bồi thường tương ứng. Chính quyền thành lập Ủy ban công dân (RC) để tham vấn về kế hoạch tái định cư, giá cả bồi thường và các giải pháp khôi phục đời sống. Thông qua RC, người dân có quyền yêu cầu mức bồi thường cụ thể, cũng như các vấn đề hỗ trợ khác, hoặc có thể khiếu kiện để hủy dự án. 

Các chính sách trên đây của Chính phủ Hàn Quốc là toàn diện, đồng thời cũng tập trung vào những vấn đề bức xúc nhất của xã hội, đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất nước, nguyện vọng của người dân và tạo ra niềm tin của nhân dân vào nhà nước. 

2.2. Kinh nghiệm của Singapore 

Singapore là một quốc đảo, diện tích nhỏ hẹp và hầu như không có tài nguyên, nguyên liệu, lương thực, thực phẩm, đều phải nhập nhưng lại có nền kinh tế phát triển, được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức. Do diện tích có hạn nên đất đai hầu hết do Nhà nước quản lý. Chính phủ Singapore xây dựng cả một chiến lược sử dụng đất đai. Sau khi có quy hoạch tổng thể, Chính phủ chuyển bản quy hoạch đó lên mạng và trưng bày tại phòng trưng bày của cơ quan chính phủ, mọi người dân có thể xem và có ý kiến. Trên cơ sở ý kiến của nhân dân, Chính phủ xem xét và đưa ra quyết định. 

Những năm đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc đền bù, giải toả đất đai được thực hiện theo Pháp lệnh về trưng dụng đất đai. Tuy nhiên, để bảo đảm được lợi ích của người dân, Singapore có hàng loạt các quy định cụ thể như việc giải toả thu hồi đất do Nhà nước thực hiện và được áp dụng các hình thức chủ yếu: giải toả tự nguyện và giải toả bắt buộc. Nhà nước đền bù theo giá quy định thường thấp hơn giá thị trường nhưng bù lại, người dân có đất bị giải toả cũng được bố trí căn hộ chung cư giá rẻ theo quy định của Nhà nước. Singapore không có chế độ bồi thường lại bằng đất, nhờ đó mà nguồn lực vốn và đất đai được tập trung để đầu tư cơ sở hạ tầng theo hướng văn minh và hiện đại.Các giải pháp hỗ trợ về vốn, cho Ủy ban phát triển nhà ở và người mua nhà lần đầu tiên vay với lãi suất ưu đãi cũng được thực hiện đồng bộ ngay trong quá trình thực hiện Pháp lệnh. Những năm sau đó, do giá nhà đất bị đẩy lên cao, để người dân mất đất không bị thiệt và để tránh những xung đột do việc thu hồi đất đai, Chính phủ đã tính toán lại giá cả đền bù cho tương đương giá thị trường. Giá này do các công ty định giá xác định, trường hợp không thoả thuận được thì toà án xử lý. Ngoài ra, còn có hình thức Nhà nước thoả thuận mua lại đất của người dân theo giá thị trường, hoặc thực hiện đền bù bổ sung không chính thức đối với những giá trị khác chưa được tính toán để thực hiện các dự án theo quy hoạch. 

Là đất nước có diện tích đất đai hạn hẹp nên chương trình phát triển nhà ở công cộng, nhà ở xã hội được xem là giải pháp trọng yếu. Ngay từ những năm 60 thế kỷ XX, Singapore đã thành lập Ủy ban phát triển nhà, có nhiệm vụ quy hoạch và phát triển những thị trấn mới, làm mới và cải tạo các khu nhà ở để đáp ứng đủ nhà ở cho dân. Đến năm 1964, Singapore bắt đầu thực hiện chính sách “người người có nhà ở”. Từ năm 1968, khi đời sống của người dân đã được nâng lên, một chủ trương mới được thực hiện, đó là việc thực hiện chế độ “để dành tiền mua nhà”. Phần lớn những gia đình ở tại các căn hộ khép kín đều mua nhà theo hình thức để dành tiền do Nhà nước đứng ra quản lý, Chính phủ tạo mọi thuận lợi để người dân được sở hữu nhà. Trước 1960, Singapore còn ở trình độ kém phát triển với hơn 70% hộ gia đình sống trong những khu nhà ở chật chội, xuống cấp và mất vệ sinh, có tới 1/4 dân số sống ở các khu nhà ổ chuột và 1/3 người khác sống trong các khu nhà tự phát ven thành phố. Nhưng đến nay, Singapore đã có trên 93% dân số có sở hữu nhà (trong đó có hơn 80% đang ở nhà giá thấp). Đó là một thành công lớn của Singapore. 

Do sự nỗ lực của Chính phủ với những chính sách hợp lý và đồng bộ nên chỉ trong 30 năm, đến năm 1996, Singapore đã xây dựng được 30 đô thị mới, cung cấp gần 5 nghìn ha đất cho kế hoạch phát triển nhà ở công cộng, trong đó 99,4% là quỹ đất của Ủy ban phát triển nhà và 87% dân số Singapore đã được bảo đảm về nhà ở, tương đương trên 650 nghìn căn hộ chung cư. 


Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

PHƯƠNG THỨC BẦU TỔNG THỐNG CỦA NƯỚC MỸ

PHƯƠNG THỨC BẦU TỔNG THỐNG CỦA NƯỚC MỸ




Tổng thống Mỹ được bầu chọn bởi 538 người đại diện cho dân chúng 51 bang của Mỹ. Đoàn 538 người này được dịch ra tiếng Việt là “Đại cử tri đoàn”. Mỗi tiểu bang có số dân khác nhau cho nên có số người đại diện (Đại cử tri ) của mỗi bang nhiều hay ít tùy theo dân số của từng bang.

(Số Đại cử tri của mỗi tiểu bang lấy theo con số dân biểu tại Hạ viện Mỹ : Thoạt đầu người ta chọn 7 tiểu bang có ít dân nhất để cho mỗi bang có 1 vị dân biểu Quốc hội Liên bang. Trung bình mỗi tiểu bang trong 7 bang này có trên dưới 700 ngàn dân cho nên người ta tính bang nào có dân số gấp 2 lần 700 ngàn thì có 2 đại diện, gấp 3 lần thì có 3 đại diện, v.v…Ví dụ như tiểu bang lớn nhất là California có dân số 37 triệu, gấp 53 lần, cho nên có 53 đại diện tại Quốc hội Liên Bang ).

Vì vậy khi ấn định số “Đại cử tri” để đi bầu Tổng thống người ta cũng chọn theo số dân, tức là theo số dân biểu của mỗi tiểu bang có mặt tại Quốc hội Liên bang. Ngoài ra mỗi tiểu bang còn có thêm 2 người “Đại cử tri” nữa, đó là 2 Thượng nghị sĩ. ( Mỗi tiểu bang đều có 2 Thượng nghị sĩ cho dù đông dân hay ít dân ). Ví dụ như bang Cali có 53 vị dân biểu và 2 Thượng nghị sĩ nên có 55 người đại diện đi bầu cử Tổng thống. Tổng cộng 50 bang và đặc khu Washington DC có tất cả là 538 người “Đại cử tri” hay là 538 phiếu bầu chọn.

538 vị đại diện này sẽ họp nhau lại bỏ phiếu chọn Tổng thống vào ngày thứ 41 sau ngày toàn dân đi bầu. Nhưng mỗi đại diện không được bỏ phiếu tùy theo ý thích của mình, mà tất cả các đại diện của mỗi tiểu bang phải bỏ phiếu cho ứng cử viên nào đã thắng phiếu tại tiểu bang của mình qua sự bầu chọn của dân chúng trong ngày bầu cử trước đó 41 ngày. Ví dụ như tất cả 55 đại diện của bang California phải bỏ phiếu cho ông Obama là người đã thắng phiếu tại Cali trong ngày bầu cử năm 2012. (Ngày bầu cử là ngày thứ Ba đầu tiên của tháng 11 của năm có bầu cử ).

Căn cứ vào kết quả trong ngày toàn dân bầu cử mà người ta tính được mỗi ứng cử viên được bao nhiêu phiếu “Đại cử tri” của từng tiểu bang (Nhưng có một ngoại lệ là 4 Đại cử tri của bang Main và 5 Đại cử tri của bang Nebraska lại được quyền bỏ phiếu cho nhiều ứng cử viên khác nhau theo tỉ lệ phiếu bầu của dân chúng. Đây là lệ riêng có từ thời thành lập Liên bang ).

Do ngày xưa phương tiện đi lại và đếm phiếu khó khăn cho nên mới cần 538 người đến một thành phố của bang Florida để bỏ phiếu bầu Tổng thống sau khi dân chúng đã chọn trước đó 41 ngày. Nhưng ngày nay thì phương tiện liên lạc được tính từng giây cho nên người ta không cần “đại cử tri đoàn” đi bỏ phiếu nữa, mà người ta chỉ cần thông báo số phiếu Đại cử tri cho Ban tổ chức bầu cử Liên bang. Tuy nhiên ngày mà Ban tổ chức chính thức công bố ai thắng cử thì vẫn giữ như cũ.

Tóm lại, Tổng thống Mỹ được chọn theo số phiếu bầu của 538 Đại cử tri, nhưng Đại cử tri bỏ phiếu theo kết quả bầu chọn của dân chúng. Tuy nhiên cách này cũng có thể xảy ra trường hợp có một ứng cử viên có tổng số phiếu bầu của dân nhiều hơn nhưng lại có phiếu “Đại cử tri” ít hơn nên bị thất cử. Trường hợp này đã xảy ra 3 lần trong các cuộc bầu cử năm 1876, 1888 và năm 2.000.

Trong năm 2.000 tổng số phiếu cá nhân của 20 tiểu bang và Washington DC bầu cho ứng Cử viên Albert A.Gore ( 51 triệu phiếu ) nhiều hơn tổng số phiếu cá nhân của 30 bang bầu cho ông George W.Bush ( 50,5 triệu phiếu ). Nhưng tổng số phiếu ĐCT của 20 bang và Washington DC bầu cho ông Gore ( 266 phiếu ) lại ít hơn tổng số phiếu ĐCT của 30 bang bầu cho ông Bush ( 271 phiếu ).

Giải thích cho sự tréo ngoe này là vì 20 bang của ông Gore là những bang lớn có nhiều dân ( 223 dân biểu ) nhưng chỉ có 40 nghị sĩ. Trong khi 30 bang của ông Bush là những bang nhỏ có ít dân ( 211 dân biểu ) nhưng có 60 nghị sĩ. Ông Gore thua phiếu ĐCT vì thua số nghị sĩ. Riêng Wahsington DC không có dân biểu và nghị sĩ nhưng có 3 phiếu ĐCT.

Nguồn gốc các chức vụ dân cử tại Mỹ:

Nước Mỹ có nguồn gốc lập quốc hoàn toàn khác với các nước khác trên thế giới. Hầu hết các nước trên thế giới đều khởi đầu từ một nhân vật và một dòng họ. Nghĩa là một người hay một dòng tộc có sức mạnh sẽ chiếm một khu vực lãnh thổ nào đó làm thành đất đai riêng của mình. Lãnh thổ đó thường được giới hạn bằng những dãy núi hay những con sông nên được gọi là một nước, hay là đất nước, hay là sông núi, non sông…

Riêng nước Mỹ thì những người đi khai phá đất đai cũng tập họp gia đình của mình hay nhiều gia đình bạn bè cùng chung khai phá một vùng đất hoang nào đó. Nhiều gia đình hay nhiều nhóm bạn bè sống quây quần thành một khu đông dân cư, gọi là thị trấn, thị xã, hay thành phố. Những người chủ có nhiều đất, có nhiều nhân công (nô lệ) trở thành những tay “có máu mặt” trong địa phương.

Mới đầu những tay có máu mặt tự bảo vệ đất đai của mình nhưng rồi vì tình hình phát triển của xã hội cho nên họ phải họp nhau lại để lo chuyện bảo vệ an ninh trật tự trong thị trấn. Rốt cuộc họ đồng lòng thuê một người có khả năng điều hành xã hội làm ông Thị trưởng, thuê một người am hiểu về luật pháp làm Chánh án, và thuê một người giỏi trị an làm Cảnh sát trưởng.

Những viên chức chính quyền hưởng lương bổng do những tay có máu mặt đóng góp. Họ đóng góp tùy theo đất đai và tài sản của mỗi người. Nghĩa là người giàu nhiều đóng nhiều, người giàu ít đóng ít, còn người đủ ăn và người nghèo thì khỏi đóng. Sau này tiền đóng góp biến thành thuế, người giàu đóng thuế nhiều, người trung lưu đóng thuế ít, người nghèo được miễn đóng thuế.

Như vậy Thị trưởng, Tòa án và Cảnh sát tại Mỹ giống như ban giám đốc của một công ty; và nhóm những tay có máu mặt giông như một hội đồng quản trị công ty. Nhưng thói thường những tay có máu mặt không muốn trực tiếp nhúng tay vào công việc quản trị thị trấn hay thành phố bởi vì họ không có thì giờ và chỉ thích đi chơi, cho nên mỗi một nhóm “có máu mặt” thuê một người đại diện cho mình hay nhóm của mình để làm công việc quản trị thị trấn. Sau này biến thành Hội đồng thị trấn, Hội đồng thành phố hay Quốc hội.

Rốt cuộc hành pháp, lập pháp và tư pháp của nước Mỹ đều có nguồn gốc là người do các tay “có máu mặt” cắt cử ra. Lần hồi nhiều thị trấn họp lại thành quân hạt, nhiều quận hạt họp thành Tiểu bang và Liên bang. Nhưng truyền thống các ông có máu mặt đề cử người điều hành Tiểu bang, Liên bang vẫn ít nhiều được duy trì. Ngày nay người ta gọi là các nhóm có máu mặt là “nhóm đại tài phiệt”.

Hiện nay nước Mỹ có hai nhóm đại tài phiệt lớn nhất có ảnh hưởng tới việc đề cử người điều hành quốc gia là Đảng Cộng Hòa và Đảng Dân Chủ. Hai đảng này thay nhau nắm quyền điều khiển quốc gia Mỹ. Họ luôn luôn tranh nhau đưa người của Đảng vào các chức vụ dân cử các cấp. Dĩ nhiên mỗi Đảng có một đường lối riêng cho đất nước trong từng thời kỳ nhưng không bao giờ chống lại nhau.

Ứng cử viên Tổng thống Mỹ

Theo luật pháp nước Mỹ thì mọi người đều có quyền ứng cử tổng thống nếu mình có nhiều sự ủng hộ của quần chúng. Nhưng thực tế thì cho dầu có tài cách mấy đi nữa thì cũng không có nhiều người ủng hộ bằng người của hai đảng chính. Bởi vì cần người ủng hộ tinh thần đã đành nhưng còn phải ủng hộ về tài chánh, bởi vì các ứng cử viên phải chia nhau chi phí bầu cử cho nên ai không có tiền đóng góp cho chí phí bầu cử thì khỏi ứng cử. Mà chi phí bầu cử cho cả nước thì chỉ có hai đảng CH và DC mới có khả năng.

Như vậy đi bầu cử Tổng thống tại Mỹ là đi bầu cho đảng Dân Chủ hay đảng Cộng Hòa chứ không phải là bầu cho ứng cử viên nào. Còn chính sách quốc gia sau khi bầu cử là chính sách của đảng thắng cử chứ không phải chính sách của ứng cử viên đắc cử.

Thông thường trước mỗi kỳ bầu cử Tổng thống thì ĐDC hay ĐCH đều có hoạch định trước chính sách điều hành quốc gia trong 1 hoặc 2 nhiệm kỳ sắp tới. Cho nên trước khi xảy ra cuộc vận động bầu cử thì người ta nhìn vào ứng cử viên sáng giá nhất của mỗi đảng để tiên đoán xem đảng nào có đường lối chính sách tốt.

Hễ đảng nào đưa ra một ứng cử viên sáng giá nhất (con gà nòi ) thì đảng đó đang có một chương trình tốt cho tương lai. Còn đảng nào nhắm đường lối trong tương lai của mình không bằng đối phương thì chỉ đưa ra một ứng cử viên xoàng cho có lệ (Con gà tre ).

Nhưng người dân Mỹ thì có thói quen không bầu cho đảng nào có đường lối tốt hay ứng cử viên sáng giá, mà họ bầu cho “phe của mình”. Truyền thống bầu cho “phe của mình” giống như ủng hộ viên của các đội bóng thể thao của Mỹ. Hễ ai theo đội nào thì theo một đội cho tới chết, có khi truyền cả cho con cái để cả nhà cùng theo một phe. Do đó không có chuyện đi bỏ phiếu cho người của đối phương, người ta coi như thế là phản bội.

Vì vậy truyền thống vận động tranh cử của nước Mỹ là không cần “nói tốt” cho con gà của mình, mà chỉ cần “nói xấu” con gà của đối phương. Trong trường hợp con gà của đối phương quá tệ thì ủng hộ viên của đối phương sẽ ngồi nhà mà không đi bầu, coi như bỏ phiếu trắng; chứ không đời nào đi bỏ phiếu cho “phe địch” mặc dầu chuyện chọn phe chỉ có tính cách cho vui mà thôi chứ không có được hưởng quyền lợi gì hết.

Vận động tranh cử

Như vậy bầu cử Tổng thống Mỹ là bầu cho ĐDC hoặc ĐCH chứ không phải là bầu cho người nào cho nên trách nhiệm của mỗi đảng là phải lựa chọn một ứng cử viên đáp ứng được đòi hỏi của tình thế trong 4 năm hoặc 8 năm sắp tới. Dĩ nhiên việc chọn ứng cử viên là nhiệm vụ của các nhóm tài phiệt thuộc 2 đảng.

Có một người Việt Nam rành chính trị nước Mỹ nhất là ông Bùi Diễm. Hồi ký của ông cho biết năm 1964 ông được hân hạnh đi quan sát cuộc vận động tranh cử Tổng thống Mỹ của đảng Cộng Hòa. Ngay khi đó ông đã viết :

“Tất cả những gì trông thấy chỉ là phần trình diễn bên ngoài, còn phần quan trọng (như chương trình tranh cử, ai hội đủ phiếu của các đại biểu để trở thành ứng cử viên chính thức của đảng ) thì đã được quyết định qua những sự bàn cãi và thỏa thuận từ trước trong hậu trường…” ( Gọng Kìm Lịch Sử, trang 200 ).

Rõ nét nhất là cuộc tranh cử Tổng thống năm 2008. Năm đó Ủy ban Hoạch định chính sách Quốc gia đã thông báo cho hai đảng biết trước là kinh tế của nước Mỹ sẽ sụp đổ vào cuối năm. Cho nên nhiệm vụ của chính phủ kế nhiệm sẽ là chịu đựng cho qua cơn sóng gió suy thoái.

Vì vậy ĐDC vội rút lui lá bài Hilarry Cliton là lá bài đang sáng giá nhất để đưa ra lá bài Obama. Ông Obama đột nhiên trở thành sáng giá vì trước tiên ông ta là người da đen. Một khi kinh tế suy sụp thì tầng lớp chịu nhiều thiệt thòi nhất sẽ là người da đen; họ có thể nổi loạn do vì thất nghiệp và vật giá leo thang (Kinh nghiệm của cuộc đại suy thoái 1929 ).

Tuy nhiên nếu Tổng thống là một người da đen thì họ sẽ kềm chế bởi vì sợ mang tiếng người da đen lợi dụng có Tổng thống da đen để làm loạn, hoặc mang tiếng người da đen không thể nào làm tổng thống được. Nhưng ngược lại, người da đen sẽ vì tự ái màu da mà giữ sự ổn định, thậm chí giúp Tổng thống Obama lèo lái đất nước qua cơn biến động của suy thoái.

Lợi thế thứ hai của ông Obama là trong 8 năm cầm quyền Tổng thống Bush đã lỡ tuyên chiến với dân Hồi giáo trên toàn thế giới, cho nên các tổ chức Hồi giáo có thể nhân dịp kinh tế Mỹ suy sụp mà làm khó thêm cho nước Mỹ. Trong khi đó ông Obama xuất thân từ một gia đình Hồi giáo cho nên ông dễ dàng thương lượng để đi đến thỏa hiệp với các tổ chức Hồi giáo.

Cũng trong cuộc bầu cử đó, ĐCH đưa ra một ứng cử viên có rất ít hậu thuẫn là ông McCain. Trong suốt cuộc vận động tranh cử ông McCain chỉ vận động cho đúng thủ tục mà thôi. Thậm chí tìm một người làm Phó cũng tìm không ra, bởi vì không ai chịu làm phó cho một người sẽ thất cử. Điều này chứng tỏ thời đó ĐCH không có kế sách gì hay để vượt qua cơn suy thoái.

Giờ đây ông Obama đã xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ nhưng ĐDC vẫn tiếp tục nhận trách nhiệm cầm cương đất nước bởi vì đa số ủng hộ viên của ĐDC thuộc thành phần dân nghèo là thành phần chịu nhiều thiệt thòi nhất trong tình hình kinh tế suy thoái. Vì vậy vấn đề của 1 hay 2 nhiệm kỳ Tổng thống kế tiếp là phải vực dậy nền kinh tế nước Mỹ sau cơn đại suy thoái 2008. Trước mắt là tìm công ăn việc làm cho đa số dân lao động. Vì vậy ĐDC mới tung ra con gà sáng giá nhất là bà Hilarry Clinton.

Còn ĐCH không có kế sách gì hay nên mới đưa ra ông Donald Trump (ĐCH thường chủ trương giảm thuế cho giới nhà giàu để họ bỏ tiền ra mở hãng xưởng, thuê công nhân. Tuy nhiên chủ trương này không thích hợp hiện nay vì có giảm thuế bao nhiêu cũng không tranh lại với giá hàng TQ ). Riêng ông Trump cũng biết đảng CH đưa mình ra cho đúng thủ tục cho nên ông tuyên bố vung vít những điều mà không ai làm được. Ngay cả cá nhân ông có đắc cử cũng chẳng làm được. Ông mạnh miệng nói bậy chỉ vì biết mình sẽ không bao giờ đắc cử Tổng thống.

Tại sao chỉ vận động tranh cử Tổng thống trong một số các tiểu bang mà thôi?

Do vì truyền thống bầu cử theo lối “người thắng cuộc sẽ hưởng trọn số phiếu Đại cử tri” của mỗi tiểu bang, và do vì truyền thống ưa bầu cho đảng “phe ta” cho nên người ta biết trước từng bang có đa số ủng hộ viên của đảng nào. Và vì thế người ta cũng biết trước đảng nào sẽ hốt trọn phiếu “đại cử tri” tại tiểu bang nào.

Nhưng có khoảng 10 tiểu bang có số ủng hộ viên của hai đảng ngang ngữa nhau; cho nên người ta tập trung giành giật sự ủng hộ của dân chúng tại các bang này. Tiếng Mỹ gọi các bang có số ủng hộ viên ngang ngữa là “swing state” (Tiểu bang chập chờn ), hay “battle ground sate” (Tiểu bang còn giành giật ), hay “purple state” (Tiểu bang nửa đỏ nửa xanh ).

Đặc biệt cuộc bầu cử năm nay có sự nổi đình nổi đám của ông Donald Trump cho nên con số 10 tiểu bang chập chờn có thể lên đến 15 tiểu bang. Bởi vậy các nhân vật nổi tiếng của ĐCH phải lên tiếng để hạn chế bớt số người thuộc ĐCH đi bầu cho ông Trump bởi vì nếu chẳng may ông ta đắc cử thì mọi chuyện hỏng cả.

NGUỒN BÙI ANH TRINH