Công ty Luật Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 334 Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Điện thoại: 0911666884- 0924.488.884.

Công ty Đấu giá Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 07 Khúc Hạo, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng

Kim Trọng Hùng Group Kính chào Các bạn

Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng. Website:luatkimtronghung.com.

Luật sư Vũ Trọng Kim-CT Hội cựu TNXP

Ủy viên trung ương ĐCS khóa VIII, IX, X, XI. Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XIII, XIV.

Luật sư Nguyễn Cao Hùng-Giảng viên thỉnh giảng Luật Đầu tư

Tác giả sách: 200 câu hỏi đáp về Khiếu nại, tố cáo. Đồng tác giả sách: Bình luận KH BLTTHS 2015-XNB CAND

Hiển thị các bài đăng có nhãn tìm hiểu về TPP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tìm hiểu về TPP. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2016

NHỮNG LỜI KHEN DÀNH CHO PETER NAVARRO (CỐ VẤN AN NINH KINH TẾ CỦA DONALD TRUMP)

NHỮNG LỜI KHEN DÀNH CHO PETER NAVARRO (CỐ VẤN AN NINH KINH TẾ CỦA DONALD TRUMP)


Death by China hay Chết dưới tay Trung Quốc được viết bởi Giáo sư Kinh tế và Chính sách Công cộng tại Đại học California, Irvine, Peter Navarro và đồng sự Greg Autry. Phiên bản điện tử của quyển sách 320 trang này đã thống kê một cách cặn kẽ những chiêu thức xã hội, kinh tế, tài chánh, và quân sự của Trung Quốc đã lấy đi hàng chục triệu việc làm của Hoa Kỳ cùng với 5 hiểm họa quân sự mà Hoa Kỳ và thế giới tự do phải đối đầu trong những thập niên tới. Gs. Navarro cũng phản biện mạnh mẽ những ý kiến của Thomas Friedman về thuyết "Thế giới phẳng". Ông cho rằng thế giới quả thật sự phẳng chỉ khi các quốc gia cùng tuân thủ một luật lệ chung. Trung Quốc không phải là trường hợp này.


"Peter Navarro đã am tường bao quát các lãnh vực mà Trung Quốc và Hoa Kỳ đang có những xung đột căn bản về thương mại, kinh tế và các lợi ích chiến lược. Ông đặt sự kiện này trong bối cảnh thế giới cho thấy những nơi mà các quá trình phát triển hiện tại của Trung Quốc có thể dẫn đến xung đột. Những đề nghị của ông về việc các quốc gia kết hợp lại để đối phó với những thách thức đặt ra bởi Trung Quốc là rất thực tế. Cuốn sách này phải đến tay của tất cả các doanh gia, kinh tế gia và các nhà làm chính sách." - Dr. Larry M. Wortzel - Chủ tịch, Ủy ban Duyệt xét Kinh tế và An ninh Hoa Kỳ - Trung Quốc

"Những cuộc chiến tranh Trung Quốc đang đến là một tư liệu nắm vững và chứa nhiều dữ kiện về khía cạnh hắc ám của sự trỗi dậy của Trung Quốc mà bất kỳ ai quan tâm bởi đất nước phức tạp nhưng hấp dẫn này. Navarro không có ý tìm ra điểm dung hòa trong cuộc tranh luận về Trung Quốc. Ông kêu gọi Trung Quốc và các nước khác trên thế giới hành động ngay để đáp ứng với các vấn đề đang chồng chất của đất nước này - ô nhiễm môi trường, y tế công cộng, vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ, khan hiếm tài nguyên, và nhiều vấn đề khác – nếu không sẽ phải đối đầu với nguy cơ mất ổn định nghiêm trọng bên trong Trung Quốc và xung đột quân sự giữa Trung Quốc và các cường quốc khác." - Elizabeth C. Economy - Thành viên Cao cấp của C.V. Starr và Giám đốc Nghiên cứu Á châu, Hội đồng Quan hệ Quốc tế

"Al Gore đã khiến thế giới quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu như thế nào thì bây giờ Peter Navarro cũng làm như vậy đối với vấn đề Trung Quốc. Cuốn sách này sẽ đập vào mắt của bạn. Một lời kêu gọi thức tỉnh mạnh mẽ." - Stuart L. Hart - Chủ tịch S.C. Johnson của tập đoàn Sustainable Global Enterprise, Đại học Cornell; tác giả của Chủ nghĩa Tư bản ở ngã ba đường”

"Những cuộc chiến tranh Trung Quốc đang đến cung cấp các thông tin phong phú về tác động của Trung Quốc đối với thế giới và những mối nguy mà nó tạo ra. Vì tầm quan trọng rất lớn của Trung Quốc, đây là một cuốn sách tất cả chúng ta nên đọc." - D. Quinn Mills - Giáo sư Alfred J. Weatherhead Jr. về Quản trị Kinh doanh Harvard Business School

"Đây là một cuốn sách được dày công nghiên cứu và diễn đạt rất rõ ràng, và là một sự phản biện cần thiết đối với nhiều ý kiến cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc là không thể tránh khỏi và rất hòa bình, và không đếm xỉa gì tới phần những thông điệp do tác giả đưa ra." - Richard Fisher - Phó Tổng giám đốc, Trung tâm Thẩm định và Chiến lược Quốc tế.


"Tại thời điểm có nhận thức rằng Trung Quốc là cường quốc sắp tới của thế giới, cuốn sách này sẽ đặt sự chú ý vào một khía cạnh khác của Trung Quốc, một đất nước dường như không sẵn sàng là một thành viên có trách nhiệm trong công đồng các quốc gia hữu nghị và tôn trọng luật lệ của nhau. Thất bại của cộng đồng quốc tế trong việc để ý tới hiện thực Trung Quốc này không chỉ nguy hại cho các quốc gia khác trên thế giới, mà còn nguy hại hơn cho dân tộc Trung Quốc, Tây Tạng, và những người đang phải hàng ngày đối mặt với các hậu quả này." - Bhuchung K. Tsering - Phó Chủ tịch, Chiến dịch Quốc tế vì Tây Tạng

"Là một nhà báo được sinh ra và lớn lên ở Trung Quốc và đã viết báo về Trung Quốc trong nhiều năm, tôi rất thán phục sự hiểu biết rộng lớn của các tác giả về các vấn đề của Trung Quốc và quan trọng nhất là sự hiểu biết thấu đáo và sáng suốt nội tình Trung Quốc và mối quan hệ với Hoa Kỳ." - Simone Gao – Người điều khiển và nhà sản xuất giành nhiều giải thưởng của Chương trình Truyền hình Zooming In, Đài New Tang Dynasty TV

“Một tác phẩm làm sáng mắt cho tất cả người Mỹ, Chết dưới tay Trung Quốc là cuốn sách phải đọc trước khi đi mua sắm ở Walmart – hay có thể là trước khi đứng vào hàng ngũ những người thất nghiệp.” - Stuart O. Witt - Tổng giám đốc, Phi cảng Hàng không và Vũ trụ Mojave; Phi công lái thử; Tốt nghiệp USN TOPGUN

"310 triệu người Mỹ nên bắt đầu lắng nghe những gì Peter Navarro và Greg Autry viết trong Chết dưới tay Trung Quốc - về việc 1.3 tỷ người Trung Quốc dưới sự chỉ đạo của một chế độ độc tài toàn trị đang hủy hoại kế sinh nhai của họ như thế nào. Tiếng chuông tự do của cuốn sách này sẽ thức tỉnh các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ để rốt cuộc họ phải nhận ra rằng các chính sách kinh tế của Trung Quốc đang làm phá sản Hiệp-chủng-quốc Hoa Kỳ. Navarro và Autry mô tả việc này một cách hết sức giản dị, và, quan trọng hơn, đưa ra cách để Hoa Kỳ đối phó với mối đe dọa này." - Richard McCormack – Chủ nhiệm và Nhà xuất bản Manufacturing & Technology News

“Giống như một Paul Revere thời hiện đại, cuốn sách này đưa ra những cảnh báo khẩn cấp nhất về một Trung Quốc với chủ trương con buôn và bảo trợ thương mại, đi đôi với quân sự hóa nhanh chóng, đang phá hủy một cách có hệ thống nền kinh tế Hoa Kỳ dưới chiêu bài “tự do” thương mại - và công lúc đó làm suy yếu nghiêm trọng quốc phòng Hoa Kỳ. Mọi công dân Hoa Kỳ cần phải đọc cuốn sách này và tất cả các Dân biểu Hoa Kỳ phải luôn mang nó bên mình." - Ian Fletcher - Kinh tế gia Cao cấp, Liên minh vì một nước Hoa Kỳ thịnh vượng

"Một phát súng trường cực mạnh nhắm trúng tim đen của Bắc Kinh." - Dylan Ratigan – Người điều khiển chương trình MSNBC’s The Dylan Ratigan Show

“Chết dưới tay Trung Quốc đưa ra thêm bằng chứng cho thấy chúng ta đang tạo ra mầm mống cho sự suy vong của chính chúng ta. Navarro và Autry trình bầy tỉ mỉ cách thức Trung Cộng ăn cắp kỹ thuật và công ăn việc làm của Hoa Kỳ, bán lại cho chúng ta sản phẩm kém phẩm chất, rồi lại dùng ngay các lợi nhuận thu được để sản xuất vũ khí đe dọa toàn thế giới. Cuốn sách này gây trấn động và là một cuốn sách tất cả mọi người phải đọc”. - Paul Midler – Tác giả của Sản phẩm Tồi tệ làm tại Trung Quốc

“Chết dưới tay Trung Quốc không chỉ mô tả chính xác mối đe dọa lớn lao về quân sự và kinh tế của một Trung Quốc đang lớn mạnh. Các tác giả còn vạch mặt chính xác và dứt khoát những doanh nghiệp phản bội và những kẻ biện hộ cho Trung Quốc ở Hoa Kỳ đang giúp Trung Quốc lớn mạnh về mọi mặt, trừ chủ trương hòa bình.” - Alan Tonelson – Chuyên gia nghiên cứu, Hội đồng Thương mại và Công nghiệp Hoa Kỳ, AmericanEconomicAlert.org

“Lời kêu gọi hành động này nghiên cứu một cách cẩn thận và đưa ra chi tiết về những hiểm họa hiện hữu và rõ ràng – mà một Trung Quốc đang lớn mạnh nhưng không đếm xỉa đến hòa bình, gây ra cho thế giới. Lời kêu gọi đó khiến cho chúng ta phải đối mặt với sự thật không thể tránh được: Nếu chúng ta không hành động ngay bây giờ, chúng ta sẽ phải đối mặt gần như chắc chắn với cái Chết dưới tay Trung Quốc.” - Dân biểu Dana Rohrabacher – Khu bầu cử 46 (Đảng Cộng hòa, California)

“Tôi đã từ lâu quan tâm đến thách thức quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ và các đồng minh, nhưng Chết dưới tay Trung Quốc tiết lộ chiến lược rộng lớn hơn của Trung Quốc hiệp đồng tấn công trên nhiều mặt trận. Các tác giả đưa ra các tài liệu về phương cách Bắc Kinh dùng những vũ khí kinh tế của giới con buôn, thao túng tiền tệ, phối hợp với hoạt động gián điệp, chiến tranh internet, vũ khí không gian, độc quyền nguồn tài nguyên, và ăn cắp kỹ thuật để đạt được sự thống trị như thế nào. Trong quá trình này, các thế mạnh kinh tế và địa chính trị căn bản làm nền tảng cho ưu thế quân sự của Hoa Kỳ đang bị xói mòn một cách có hệ thống trong khi Trung Quốc ngày càng có thái độ hung hăng hơn trong các tranh chấp trong khu vực. Các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Tây phương nên đọc cuốn sách này. Ngay bây giờ!” - Jon Gallinetti – Thiếu tướng, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, đã về hưu

“Một tập hợp các tài liệu lạnh người về cơn bão Trung Quốc đang tới. Tài liệu này khiến tôi vừa sửng sốt vừa bừng tỉnh. Tôi cảm thấy là sự lơ là của Hoa Kỳ khi đối mặt với sự thống trị của Trung Quốc thực là đáng lo ngại.” - Brian Binnie - Tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ, đã về hưu; phi công lái thử; Phi hành gia thương mại và người đoạt giải thưởng Ansari X

"Xin cảnh báo trước: Một khi bạn bắt đầu đọc, bạn sẽ không muốn dừng lại. Chết dưới tay Trung Quốc phơi bày những nước cờ quan trọng, thường bị bỏ qua, và đôi khi cố tình bị che giấu trong một ván cờ đại quy mô có tầm cỡ toàn cầu. Navarro và Autry đã lên tiếng báo động, kêu gọi thế giới tự do hãy hành động vì lợi ích và tương lai của mình. Điều đáng khâm phục là họ cũng kêu gọi cả Trung Quốc nữa." - Damon DiMarco – Tác giả của Các Câu chuyện về các Tòa tháp: Lịch sử bằng lời nói về Sự kiện 9/11 và đồng tác giả Hai nước Trung Quốc của tôi

“Tại thời điểm này, các quan chức Trung Quốc cho chất độc vào thuốc của bạn, gây ô nhiễm không khí của bạn, và phá hoại các quyền tự do của bạn. Nếu bạn là người Mỹ, Ấn Độ, hay Nhật Bản, họ đang có kế hoạch gây chiến với đất nước của bạn. Bây giờ là thời điểm tốt để đọc cuốn sách này.” - Gordon Chang - Tác giả của Sự sụp đổ đang đến của Trung Quốc

**************
Lời mở đầu

Chương 1. Chẳng phải đả kích Trung Quốc, nếu là sự thật

Phần I: Người mua hãy cực kỳ cảnh giác

Chương 2. Chết vì chất độc của Trung Quốc: Mạng sống vài đồng và thịt gà thì miễn phí

Chương 3. Chết bởi hàng hóa rác rưởi Trung Quốc: Bóp nghẹt trẻ thơ từ trong nôi

Phần II: Những vũ khí hủy diệt việc làm 

Chương 4. Cái chết của nền sản xuất của Hoa Kỳ: Tại sao hàng Mỹ không còn ‘ăn khách’ (*) nữa?

Chương 5. Chết bởi thủ đoạn thao túng tiền tệ: Ngọa Hổ, Kình Long

Chương 6. Chết bởi những doanh nghiệp Hoa Kỳ phản bội: Khi màu xanh đô-la che lấp màu cờ Hoa Kỳ

Chương 7. Chết dưới tay con Rồng thực dân: Thâu tóm nguồn tài nguyên – Thao túng thị trường thế giới

Phần III: Chúng ta sẽ chôn người, theo kiểu Trung Quốc 

Chương 8. Chết dưới tay hải quân viễn dương : Vì sao việc gia tăng quân sự của Trung Quốc là báo động đỏ

Chương 9. Chết dưới tay điệp viên Trung Quốc: Làm thế nào máy hút của Bắc Kinh đang ăn cắp sợi thừng để treo cổ chú Sam

Chương 10. Chết dưới tay tin tặc Đỏ: Từ “Hắc khách Thành Đô” đến những con chip Mãn Châu

Chương 11. Chết dưới thanh kiếm laser của dòng họ Lưu: Mẹ ơi, có tàu vũ trụ Sát tinh đang chiếu xuống Chicago

Phần IV: Tài liệu hướng dẫn người quá giang đến trại tù cưỡng bức lao động Trung Quốc 

Chương 12. Ngày mệnh chung cho Hành tinh lớn: Bạn có muốn bị chiên vào ngày tận thế không?

Chương 13. Chết vì tàn sát kiểu Trung Quốc: Khi Mao gặp Orwell và Đặng Tiểu Bình tại quảng trường Thiên An Môn

Chương 14. Chết dưới tay Trung Quốc ở Trung Quốc: Thượng Hải hóa bộ gien ở nóc nhà thế giới và các câu chuyện trần tục khác

Phần V: Tài liệu hướng dẫn để sống còn và lời kêu gọi hành động 

Chương 15. Chết bởi kẻ ủng hộ Trung Quốc: Fareed Zakaria tan theo mây khói

Chương 16. Sống với Trung Quốc: Làm thế nào để Tồn tại và Thịnh vượng trong Thế kỷ của Rồng

Lời kết

**********




Thứ Năm, 4 tháng 2, 2016

Thương mại điện tử trong TPP (chương 14)


Ngày 04/2/2016 Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)



Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP. (Nguồn: EPA)


Hôm nay, ngày 4/2/2016, Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) gồm Ốt-xtrây-lia, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po, Hoa Kỳ và Việt Nam đã tham dự Lễ ký kết để xác thực lời văn Hiệp định TPP tại Auckland, Niu Di-lân.

Được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng đã thay mặt Chính phủ Việt Nam ký xác thực lời văn Hiệp định TPP và 35 thỏa thuận song phương trong các lĩnh vực liên quan đến dịch vụ tài chính, dệt may, nông nghiệp, sở hữu trí tuệ… mà Việt Nam đã thống nhất với một số nước TPP.

Các thỏa thuận song phương này sẽ có hiệu lực cùng thời điểm với Hiệp định TPP.

Xem toàn văn Hiệp định TPP bằng tiếng Việt tại địa chỉ: http://tpp.moit.gov.vn/

Hiệp định bao gồm 30 chương, đề cập không chỉ các lĩnh vực truyền thống như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà còn cả các vấn đề mới như thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng, doanh nghiệp nhà nước v.v...

Bộ Công Thương đã công bố toàn văn Hiệp định TPP bằng 3 thứ tiếng gồm tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha đã được các nước ký xác thực lời văn và có giá trị pháp lý như nhau cùng các thư trao đổi song phương giữa Việt Nam với một số nước TPP.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cho hay, nhằm mục đích đáp ứng kịp thời và đầy đủ hơn nhu cầu thông tin của các cơ quan hoạch định chính sách, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, Bộ Công Thương cũng công bố bản dịch tiếng Việt do các Bộ, ngành có liên quan thực hiện.






CHƯƠNG 14 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 



Điều 14.1. Định nghĩa: 

Trong phạm vi của Chương này: Hệ thống máy chủ là các máy chủ và các thiết bị lưu trữ dùng để xử lý và lưu trữ thông tin phục vụ cho mục đích thương mại; Pháp nhân được bảo hộ 1 là: (a) một hoạt động đầu tư được bảo hộ như định nghĩa tại Chương II (Đầu tư) (b) một nhà đầu tư của một Bên như định nghĩa tại Chương II (Đầu tư), nhưng không bao gồm nhà đầu tư trong một tổ chức tài chính; hoặc (c) Nhà cung cấp dịch vụ của một Bên như định nghĩa tại Chương JJ (Thương mại dịch vụ qua biên giới), nhưng không bao gồm một tổ chức tài chính hoặc một nhà cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới của một Bên như định nghĩa tại Chương KK (Dịch vụ tài chính) Sản phẩm số là một chương trình máy tính, văn bản, video, hình ảnh, ghi âm hoặc sản phẩm khác được mã hóa bằng kỹ thuật số, sản xuất vì mục tiêu kinh doanh hay phân phối thương mại, và có thể được truyền đưa bằng điện tử; 2 3 Chứng thực điện tử là quy trình hoặc hành động xác minh danh tính của một bên đối với một giao tiếp hoặc giao dịch điện tử và đảm bảo tính toàn vẹn của một giao tiếp điện tử; Truyền đưa điện tử hoặc truyền được bằng điện tử là một hoạt động truyền tin được thực hiện bằng các phương tiện điện từ trường, kể cả bằng các phương tiện quang tử; Thông tin cá nhân là bất kỳ thông tin, bao gồm cả dữ liệu, về một thể nhân/tự nhiên nhân đã được xác định hoặc có thể xác định; Văn bản quản lý về thương mại là các mẫu được ban hành hoặc kiểm soát bởi một Bên cần phải được hoàn thiện bởi hoặc cho một nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu có liên quan đến việc xuất hay nhập khẩu hàng hóa; và Tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn là một tin nhắn điện tử được gửi vì mục đích thương mại hoặc marketing đến một địa chỉ điện tử thông qua một nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet hoặc dịch vụ viễn thông khác trong phạm vi quy định của luật và các quy định của mỗi Bên, mà không có sự đồng ý của người nhận hoặc bất chấp việc từ chối rõ ràng của người nhận. 



Điều 14. 2: Phạm vi và Các quy định chung: 

1. Các Bên ghi nhận các giá trị tăng trưởng kinh tế cũng như cơ hội mà Thương mại điện tử mang lại, cũng như tầm quan trọng của việc hình thành các khuôn khổ nhằm tăng cường lòng tin của người tiêu dùng vào thương mại điện tử và tránh những hàng rào cản trở không cần thiết đối với việc ứng dụng và sự phát triển của thương mại điện tử. 2. Chương này sẽ áp dụng đối với các biện pháp mà một Bên thông qua hoặc duy trì có tác động đối với hoạt động thương mại bằng các phương tiện điện tử. 3. Chương này sẽ không áp dụng đối với: (a) mua sắm chính phủ (b) các thông tin được nắm giữ hoặc xử lý bởi một Bên hoặc do Bên đó ủy quyền, hoặc các biện pháp liên quan đến các thông tin đó, bao gồm các biện pháp về việc thu thập thông tin. 4. Để rõ ràng hơn, các biện pháp có tác động đến việc cung cấp dịch vụ được thực hiện bằng phương thức điện tử sẽ còn tùy thuộc vào các nghĩa vụ có trong các điều khoản liên quan của Chương II (Đầu tư),/ Chương JJ (Thương mại dịch vụ qua 1 Đối với Australia, pháp nhân được bảo hộ không bao gồm tổ chức báo cáo tín dụng. 2 Để rõ ràng hơn, sản phẩm số không bao gồm dạng thức số hóa của công cụ tài chính, gồm cả tiền 3 Định nghĩa của sản phẩm số không nên được hiểu là sự phản ánh quan điểm của một Bên đối với vấn đề hoạt động kinh doanh các sản phẩm số thông qua truyền dẫn điện tử nên được phân loại là thương mại dịch vụ hay thương mại hàng hóa. biên giới) và chương KK (Dịch vụ tài chính), bao gồm cả các ngoại trừ hoặc các biện pháp không thương thích quy định trong Hiệp định này được áp dụng cho các nghĩa vụ đó. 5. Để rõ ràng hơn, các nghĩa vụ nêu trong các Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số), Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử), Điều 14.13 (Đặt hệ thống máy chủ) và Điều 14.17 (Mã nguồn) sẽ: (a) Tùy thuộc vào các điều khoản liên quan, các ngoại lệ và các biện pháp không tương thích của Chương II (Đầu tư), Chương JJ (Thương mại dịch vụ qua biên giới) và Chương KK (Dịch vụ Tài chính) và (b) Được hiểu đồng thời với các điều khoản liên quan khác trong Hiệp định này. 6. Các nghĩa vụ nêu trong các Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số), Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử), Điều 14.13 (Đặt hệ thống máy chủ) sẽ không áp dụng đối với các biện pháp có yếu tố không tương thích được áp dụng và duy trì theo như các Điều II.11 (Các biện pháp không tương thích của Chương Đầu tư), Điều JJ.7 (Các biện pháp không tương thích của Chương Thương mại dịch vụ qua biên giới) hoặc Điều KK.10 (Các biện pháp không tương thích của Chương Dịch vụ tài chính). 



Điều 14.3: Thuế hải quan: 

1. Không Bên nào được áp các loại thuế hải quan đối với các giao dịch điện tử, bao gồm cả nội dung được truyền đưa bằng phương thức điện tử, giữa một pháp nhân của một Bên với một pháp nhân của một Bên khác. 2. Để rõ ràng hơn, khoản 1 sẽ không ngăn cản một Bên áp các thuế nội địa, lệ phí hoặc các khoản thu khác đối với nội dung được truyền đưa bằng phương thức điện tử, miễn là các loại thuế, lệ phí hoặc khoản thu đó được quy định một cách phù hợp với Hiệp định này. 



Điều 14.4: Không phân biệt đối xử các sản phẩm số: 

1. Không Bên nào được đối xử kém thuận lợi hơn đối với sản phẩm số được tạo ra, sản xuất, xuất bản, ký hợp đồng, đặt hàng hoặc xuất hiện trên cở sở các nguyên tắc thương mại tại lãnh thổ của một Bên khác, hoặc đối với sản phẩm số mà tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất, nhà phát triển hoặc chủ sở hữu là pháp nhân của một Bên khác, so với các sản phẩm số tương tự khác. 4 2. Khoản 1 sẽ áp dụng trong trường hợp có mâu thuẫn với các quyền và nghĩa vụ trong Chương QQ. 3. Các Bên hiểu rằng Điều này sẽ không áp dụng cho các khoản trợ cấp hay tài trợ bởi một Bên bao gồm cả những khoản vay, bảo lãnh và bảo hiểm do Chính phủ hỗ trợ. 4. Điều này sẽ không áp dụng đối với phát thanh truyền hình. 



Điều 14.5: Khung quy định trong nước về giao dịch điện tử 

1. Các Bên sẽ phải duy trì một khung pháp lý điều chỉnh các giao dịch điện tử phù hợp với các nguyên tắc của Luật mẫu UNCITRAL về Thương mại điện tử 1996 hoặc Công ước Liên hợp quốc về sử dụng các liên lạc điện tử trong các hợp đồng quốc tế đã được thông qua tại New York vào 23/11/2005. 2. Mỗi Bên sẽ phải nỗ lực: (a) tránh tạo ra bất kỳ gánh nặng về quy định không cần thiết đối với các giao dịch điện tử; và (b) tạo thuận lợi cho việc góp ý kiến của các pháp nhân có liên quan đối với việc xây dựng khung pháp lý về giao dịch điện tử. 



Điều 14.6: Chứng thực điện tử và chữ ký điện tử 

1. Ngoại trừ những trường hợp có quy định khác trong luật, một Bên sẽ không được phủ nhận giá trị pháp lý của một chữ ký chỉ ví lý do chữ ký đó là ở dạng điện tử. 4 Để rõ ràng hơn, nếu như một sản phẩm số của một Bên không phải thành viên Hiệp định là một “sản phẩm số tương tự”, thì nó sẽ được coi là “sản phẩm số tương tự khác” như theo khoản 14.4.1 đã nêu. 2. Không bên nào được áp dụng hoặc duy trì các biện pháp đối với chứng thực điện tử mà sẽ: (a) ngăn cấm các Bên tham gia vào một giao dịch điện tử được cùng nhau quyết định các phương pháp chứng thực phù hợp với giao dịch đó; hoặc (b) ngăn cấm các Bên tham gia vào một giao dịch điện tử có cơ hội được chứng minh trước các cơ quan hành chính hoặc tư pháp rằng giao dịch của họ tuân thủ mọi yêu cầu pháp lý về chứng thực. 3. Không phụ thuộc vào các quy định tại khoản 2, một Bên có thể quy định đối với một hạng mục giao dịch cụ thể, phương pháp chứng thực phải đáp ứng những tiêu chuẩn về hiệu suất nhất định hoặc phải được công nhận bởi một cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật. 4. Các Bên sẽ khuyến khích việc sử dụng chứng thực điện tử tương thích. 



Điều 14.7: Bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến 

1. Các Bên thừa nhận tầm quan trọng của việc áp dụng và duy trì các biện pháp minh bạch và hiệu quả để bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi gian lận và lừa đảo thương mại như được đề cập ở Điều PP.7.2 (Bảo vệ người tiêu dùng) khi họ tham gia vào thương mại điện tử. 2. Mỗi Bên sẽ áp dụng hoặc duy trì các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng để ngăn cấm các hành vi gian lận và lừa đảo thương mại gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại cho người tiêu dùng tham gia vào các hoạt động thương mại trực tuyến. 3. Các Bên thừa nhận tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng quốc gia hoặc các cơ quan liên quan khác đối với các hoạt động thương mại điện tử qua biên giới nhằm nâng cao lợi ích cho người tiêu dùng. Để thực hiện điều này, các Bên khẳng định nội dung hợp tác trong Điều PP.7.5 và Điều PP.7.6 (Bảo vệ người tiêu dùng) bao gồm cả hợp tác đối với các hoạt động thương mại trực tuyến. 



Điều 14.8: Bảo vệ thông tin cá nhân5 

1. Các Bên thừa nhận các lợi ích về kinh tế và xã hội của việc bảo vệ thông tin cá nhân của người dùng thương mại điện tử và đóng góp của điều này vào việc nâng cao sự tín nhiệm của người tiều dùng đối với thương mại điện tử. 2. Để thực hiện điều này, các Bên sẽ áp dụng hoặc duy trì khung pháp lý quy định việc bảo vệ thông tin cá nhân của người dùng thương mại điện tử. Trong quá trình xây dựng khung pháp lý về bảo vệ thông tin cá nhân, mỗi Bên nên tham khảo các nguyên tắc và hướng dẫn của các tổ chức quốc tế liên quan6 . 3. Mỗi Bên sẽ nỗ lực, trong phạm vi thẩm quyền của mình, sẽ áp dụng các thông lệ về không phân biệt đối xử đối với việc bảo vệ người dùng thương mại điện tử khỏi các hành vi xâm phạm thông tin cá nhân. 4. Mỗi Bên nên công bố các thông tin về các biện pháp bảo vệ thông tin tin cá nhân đối với người dùng thương mại điện tử, bao gồm các cách thức để: (a) các cá nhân có thể tìm các biện pháp khắc phục; và (b) các doanh nghiệp có thể tuân thủ các yêu cầu pháp lý; 5. Trên cơ sở thừa nhận rằng các Bên có thể đưa ra các biện pháp pháp lý khác nhau để bảo vệ thông tin các nhân, mỗi Bên sẽ khuyến khích việc xây dựng các cơ chế để thúc đẩy và tăng cường khả năng tương thích giữa các biện pháp đó. Các cơ chế này có thể bao gồm việc công nhận các kết quả đầu ra của quản lý, có thể là theo hình thức độc lập hoặc thông quả thỏa thuận lẫn nhau, hoặc qua các khuôn khổ quốc tế rộng hơn. Để thực hiện điều này, các Bên sẽ nỗ lực trong phạm vi thẩm quyền của mình để trao đổi thông tin về các cơ chế như vậy và tìm cách mở rộng các cơ chế đó hoặc các hình thức thỏa thuận thích hợp khác để tăng cường khả năng tương thích giữa các cơ chế đó. 5 Brunei và Việt Nam không bắt buộc phải áp dụng Điều này trước ngày mà các nước này bắt đầu thực thi khung pháp lý quy định việc bảo vệ dữ liệu cá nhân của người dùng thương mại điện tử 6 Để rõ ràng hơn, một Bên có thể tuân thủ theo nghĩa vụ của khoản này bằng cách áp dụng hoặc duy trì các biện pháp ví dụ như bảo mật toàn diện, các luật về bảo vệ thông tin hoặc dữ liệu cá nhân, các luật chuyên ngành về bảo mật, hoặc các luật quy định việc thực thi các cam kết tự nguyện của doanh nghiệp liên quan đến bảo mật. 



Điều 14.9: Thương mại không qua giấy tờ 

Mỗi Bên sẽ nỗ lực để: (a) công bố rộng tãi các văn bản quản lý về thương mại ở dạng điện tử; và (b) chấp nhận các văn bản quản lý về thương mại được nộp bằng phương thức điện tử với giá trị pháp lý tương đương với các văn bản bằng giấy. 



Điều 14.10: Các nguyên tắc về truy cập và sử dụng Internet cho Thương mại điện tử 

Tùy thuộc vào các chính sách, luật pháp và quy định được áp dụng, các Bên ghi nhận lợi ích của người tiêu dùng từ việc có các quyền như sau trên lãnh thổ của mình: (a) truy cập và sử dụng các dịch vụ và ứng dụng trên Internet theo chọn lựa của người tiêu dùng, trên cơ sở việc mạng lưới được quản trị một cách hợp lý7 ; (b) kết nối các thiết bị của người dùng cuối với Internet theo chọn lựa của người tiêu dùng, miễn là các thiết bị đó không gây tổn hại cho mạng lưới; và (b) truy cập các thông tin về các biện pháp quản trị mạng lưới từ nhà cung cấp kết nối Internet của người tiêu dùng. 



Điều 14.11: Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử 

1. Các Bên thừa nhận rằng mỗi Bên có thể có nhưng yêu cầu quản lý riêng đối với việc lưu chuyển thông tin bằng các phương tiện điện tử. 2. Mỗi Bên sẽ cho phép việc lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng các phương tiện điện tử, bao gồm cả thông tin cá nhân, nếu việc lưu chuyển này phục vụ cho hoạt động kinh doanh của một pháp nhân được bảo hộ; 3. Không có gì trong Điều này ngăn cản một Bên áp dụng hoặc duy trì các biện pháp không phù hợp với khoản 2 để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng, miễn là biện pháp đó: (a) không được áp dụng để nhằm mục đích tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện hoặc vô lý, hoặc cản trở thương mại một cách trá hình. (b) không áp đặt các hạn chế hơn mức cần thiết đối với các hoạt động lưu chuyển thông tin để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng. 



Điều 14.12: Chia sẻ cước kết nối Internet 

Các Bên ghi nhận rằng một nhà cung cấp có nhu cầu kết nối Internet quốc tế nên được phép đàm phán với các nhà cung cấp của một Bên khác trên cơ sở thương mại. Các hoạt động đàm phán này có thể bao gồm đàm phán về bồi thường cho việc thiếp lập kết nối, vận hành và bảo trì các thiết bị của các nhà cung cấp. 



Điều 14.13: Đặt hệ thống máy chủ 

1. Các Bên thừa nhận rằng mỗi Bên có thể có nhưng yêu cầu quản lý riêng đối với việc sử dụng các thiết bị máy tính, bao gồm cả các yêu cầu để đảm bảo an ninh và bảo mật thông tin liên lạc. Không bên nào được yêu cầu một pháp nhân được bảo hộ phải sử dụng hoặc đặt hệ thống máy chủ trên lãnh thổ của Bên đó như là một điều kiện để tiến hành hoạt động kinh doanh tại lãnh thổ đó. 2. Không có gì trong Điều này ngăn cản một Bên áp dụng hoặc duy trì các biện pháp không phù hợp với khoản 1 để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng, miễn là biện pháp đó: a) không được áp dụng để nhằm mục đích tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện hoặc vô lý, hoặc cản trở thương mại một cách trá hình. 7 Các Bên thừa nhận rằng nếu một nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet cung cấp đến các thuê bao của mình một số nội dung nhất định trên cơ sở độc quyền thì sẽ được coi là không làm trái với nguyên tắc này. (b) không áp đặt các hạn chế hơn mức cần thiết đối với việc sử dụng và đặt hệ thống máy chủ để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng. 



Điều 14.14: Tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn 

8 1. Mỗi Bên sẽ áp dụng hoặc duy trì các biện pháp liên quan đến tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn mà: (a) yêu cầu các nhà cung cấp các tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn phải tạo điều kiện cho người nhận có khả năng ngăn việc tiếp tục phải nhận những tin nhắn đó. (b) yêu cầu phải có sự chấp thuận của người nhận, được quy định cụ thể trong luật pháp và các quy định của mỗi Bên, để nhận các tin nhắn điện tử thương mại; hoặc (c) nếu không thì phải quy định việc giảm thiểu tối đa các tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn. 2. Các Bên sẽ quy định việc đòi bồi thường đối với các nhà cung cấp tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn không tuân thủ theo các biện pháp được áp dụng hoặc duy trì như ở khoản 1. 3. Các Bên sẽ nỗ lực hợp tác trong các vụ việc thích hợp có liên quan đến quy định về tinh nhắn điện tử thương mại không mong muốn mà cả 2 Bên đều có chung mối quan tâm. 



Điều 14.15: Hợp tác Ghi nhận tính chất toàn cầu của thương mại điện tử, 

các Bên sẽ nỗ lực để: (a) cùng nhau hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua các trở ngại trong việc ứng dụng thương mại điện tử; (b) trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệp về quy định, chính sách, việc thực thi và tuân thủ liên quan đến thương mại điện tử, bao gồm: (i) bảo vệ thông tin cá nhân; (ii) bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến bao gồm cả những biện pháp khôi phục và nâng cao sự tín nhiệm của người tiêu dùng; (iii) tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn (iv) vấn đề an ninh trong các liên lạc điện tử; (v) chứng thực; và (vi) chính phủ điện tử (c) trao đổi thông tin và chia sẻ quan điểm về việc tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ trực tuyến của người tiêu dùng giữa các Bên; (d) tích cực tham gia vào các diễn đàn khu vực và đa phương để thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử; và (e) khuyến khích khối tư nhân phát triển các biện pháp về quy định nội bộ nhằm thúc đẩy thương mại điện tử, bao gồm các quy tắc ứng xử, hợp đồng mẫu, hướng dẫn và cơ chế thực thi. 



Điều 14.16: Hợp tác trong các vấn đề an ninh mạng: 

Các Bên ghi nhận tầm quan trọng của việc: (a) nâng cao năng lực của các cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm về đối phó với sự cố an toàn máy tính; và (b) thông qua các cơ chế hợp tác hiện có để phối hợp xác định và giảm thiểu các hành vi xâm nhập nguy hiểm hoặc phổ biến mã độc hại gây ảnh hưởng đến mạng lưới điện tử của các Bên. 8 Brunei Darussalam không bắt buộc phải áp dụng Điều này trước ngày nước này bắt đầu thực thi khung pháp lý về tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn. 



Điều 14.17. Mã nguồn: 

1. Không Bên nào được yều cầu việc chuyển giao hoặc truy cập đến mã nguồn của phần mềm được sở hữu bởi một pháp nhân của một Bên khác như là một điều kiện để phần mềm hoặc các sản phẩm sử dụng phần mềm đó được nhập khẩu, phân phối, bán hoặc sử dụng trong lãnh thổ của Bên đó. 2. Trong phạm vi của Điều này, phần mềm được nói đến khoản 1 sẽ chỉ giới hạn trong các phần mềm hoặc các sản phẩm dùng các phần mềm đó trên thị trường đại chúng, và không bao gồm các phần mềm được sử dụng cho hạ tầng trọng yếu. 3. Không có gì trong Điều này sẽ ngăn cản: (a) việc cam kết hoặc thực thi các điều khoản và điều kiện liên quan đến việc cung cấp mã nguồn trong các hợp đồng được đàm phán trên cơ sở thương mại; hoặc (b) một Bên yêu cầu sửa đổi mã nguồn của phần mềm cần thiết để phần mềm đó tuân thủ với các luật và quy định không phù hợp với Hiệp định này. 4. Điều này sẽ không được hiểu là có tác động đến các yêu cầu liên quan đến các đăng ký sáng chế hoặc các bằng sáng chế đã được cấp, bao gồm cả các lệnh do cơ quan tư pháp ban hành liên quan đến tranh chấp sáng chế, trên cơ sở phụ thuộc vào quy định pháp luật và thông lệ của một Bên về các biện pháp chống lại hành vi tiết lộ trái phép. Điều 14.18: Giải quyết tranh chấp 1. Đối với các biện pháp hiện hành, Malaysia sẽ không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo như Chương BBB (Giải quyết tranh chấp) đối với các nghĩa vụ của Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số) và Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử) trong khoảng thời gian 3 năm kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực đối với Malaysia. 2. Đối với các biện pháp hiện hành, Việt Nam sẽ không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo như Chương BBB (Giải quyết tranh chấp) đối với các nghĩa vụ của Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số), Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử) và Điề


Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2015

Lý do Trung Quốc không thể gia nhập TPP



Lý do Trung Quốc không thể gia nhập TPP

Theo tin tức ngày 6/10 trên trang mạng của Bộ Thương mại Trung Quốc, người phát ngôn của Bộ Thương mại Trung Quốc khi trả lời câu hỏi liên quan của các phóng viên đã chỉ rõ hiệp định TPP là một trong những hiệp định thương mại tự do quan trọng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương hiện nay.

Trung Quốc giữ thái độ cởi mở đối với các quy tắc phù hợp với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), giúp thúc đẩy xây dựng cơ chế nhất thể hóa kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mong muốn hiệp định này thúc đẩy các dàn xếp thương mại tự do khác ở khu vực này, cùng đóng góp cho đầu tư thương mại và phát triển kinh tế của khu vực châu Á-Thái Bình Dương.


Vận chuyển container tại cảng ở Thanh Đảo, Sơn Đông, Trung Quốc. (Nguồn: Reuters)

TPP là do 4 nước New Zealand, Singapore, Chile và Brunei trong các nước thành viên của Hội nghị hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương khởi xướng, hiệp định thương mại tự do của một nhóm quan hệ đa phương bắt đầu ấp ủ từ năm 2002, tên cũ là Khu thương mại tự do châu Á-Thái Bình Dương, nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng cùng với số thành viên đàm phán dần dần gia tăng, Mỹ tuyên bố tham gia vào tháng 2/2008, đã phát triển lên thành 12 nước thành viên, cuối cùng ở mức độ rất lớn được giải thích là hành vi mà Mỹ chủ đạo quy tắc thương mại thế giới nhằm vào Trung Quốc, là quy tắc thương mại khu vực mới có ý nghĩa tương tự như WTO.

Tại sao TPP không có Trung Quốc?

Điều mà WTO theo đuổi là cắt giảm thuế quan, điều mà TPPtheo đuổi là thương mại tự do. Thương mại tự do bao gồm những gì? Bao gồm không thuế quan, bao gồm luân chuyển tự do toàn bộ hàng hóa, dịch vụ, tất cả chế độ quản lý kinh tế đều phải thống nhất tiêu chuẩn; phân tích chi tiết các lĩnh vực có tự do thương mại và dịch vụ, trao đổi tự do tiền tệ, chế độ thuế công bằng, tư hữu hóa doanh nghiệp nhà nước, bảo hộ quyền và lợi ích của người lao động, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ tài nguyên môi trường, tự do thông tin. Nói cụ thể chính là cấm các loại biện pháp, thao túng, trợ cấp..., mà hiện nay Trung Quốc còn xa mới đạt được những điều kiện và quy tắc thương mại này.

Xét về mặt lý luận và quy tắc của TPP, bất cứ nước nào cũng đều có thể tham gia TPP, nhưng riêng Trung Quốc thì không được, dùng câu nói của một quan chức TPP: “TPP là một câu lạc bộ chỉ cấm Trung Quốc tham gia."

Trung Quốc gia nhập TPP khó ở đâu?

Trao đổi tự do tiền tệ. Điểm này dường như là nhằm vào Trung Quốc, việc quốc tế hóa đồng nhân dân tệ của Trung Quốc vừa mới bắt đầu, nếu giờ đây Trung Quốc mở cửa trao đổi tự do tiền tệ chắc chắn sẽ dẫn đến sự bất ổn lớn cho nền kinh tế Trung Quốc, một lượng lớn tiền vốn đổ ra bên ngoài. Điểm này sẽ loại Trung Quốc ra ngoài.

Tư nhân hóa (cổ phần hóa) các doanh nghiệp nhà nước. Điều này cũng là nhằm vào Trung Quốc, cố ý dùng vấn đề này để loại Trung Quốc ra ngoài, trong thời gian 10 năm qua, các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc không những không yếu đi, trái lại ngày càng mạnh lên, “nước tiến dân lùi,” ngày càng lũng đoạn. Muốn tham gia TPP thì phải tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước, việc này đối với các doanh nghiệp nhà nước ở tầng lớp được lợi ích từ phân phối của cải hiện nay là rất khó khăn.

Hơn nữa, những trở ngại khác trong việc tham gia TPP của Trung Quốc cũng không ít: bảo vệ môi trường, quyền và lợi ích người lao động, quyền sở hữu trí tuệ…, mỗi vấn đề đều đặt tiêu chuẩn cao, trong đó, bảo vệ môi trường, bảo vệ thương mại là “rào cản xanh.”

TPP chủ trương đưa ra các yêu cầu tiêu chuẩn cao trên các phương diện như tính đa dạng sinh học và thương mại, các hiệp định môi trường đa phương, lĩnh vực bất đồng về bảo vệ môi trường, nghề đánh bắt cá trên biển. Năm 2015, Luật bảo vệ môi trường mới của Trung Quốc được thực thi, được coi là luật bảo vệ môi trường “nghiêm khắc nhất trong lịch sử,” có thể bắt giữ cả người phụ trách doanh nghiệp, thời gian gần đây cũng xuất hiện những hóa đơn phạt lên đến 15,8 triệu nhân dân tệ, đã có tác dụng thúc đẩy đối với việc bảo vệ môi trường ở Trung Quốc, nhưng phải nhìn nhận rằng những việc này còn hạn chế ở phạm vi ô nhiễm môi trường.


Thách thức về quyền và lợi ích người lao động không nhỏ, “rào cản xanh” trong bảo vệ thương mại. Các quy tắc thương mại lao động của các nước như Mỹ và Nhật Bản chú trọng đến đãi ngộ tiền lương và điều kiện môi trường của người lao động trong sản xuất hàng hóa, nhấn mạnh đến sự quan tâm về giá trị của người lao động và sự quan tâm nhân văn của các doanh nghiệp đối với môi trường và người tiêu dùng.

Tuy nhiều năm nay tiền lương công nhân ở Trung Quốc đang tăng lên, giá thành sức lao động cũng gia tăng, nhưng trước mắt vẫn khó có thể thay đổi giá cả sức lao động tương đối rẻ, môi trường làm việc và thời gian nghỉ ngơi không được đảm bảo, sự thực vẫn còn khoảng cách tương đối dài so với Mỹ và Nhật Bản trong việc bảo vệ quyền và lợi ích người lao động, cũng như vấn đề thiếu vắng các tổ chức công đoàn của Trung Quốc trong việc bảo vệ người lao động.

Xét từ một vài điểm trên, TPP chính là một hệ thống thương mại đặt ra để gạt Trung Quốc ra ngoài, hơn nữa với điều kiện của Trung Quốc hiện nay là không thể đủ điều kiện tham gia.

Trung Quốc bị gạt ngoài lề sẽ nảy sinh vấn đề gì?

Tuy TPP là thị trường mở cho các nước thành viên, trong cuốn “Bàn về tài sản quốc gia” của Adam Smith luôn nhấn mạnh mở cửa thị trường, giảm thuế sẽ có lợi nhiều thứ, TPP còn là “cái bánh ngon” không thuế quan, nhưng suy cho cùng là sự giao dịch giữa các nước, trong đó liên quan đến văn hóa, truyền thống, kiểm soát vĩ mô (thực ra là mỗi nước đều mong muốn mình giành được nhiều lợi ích hơn để các nước khác được lợi ít hơn). Nhưng chung quy là có lợi ích rất lớn trong đó, vì vậy một khi thành lập phải giảm bớt yêu cầu của các nước khác đối với hàng hóa xuất khẩu của nước mình.

Trung Quốc bị gạt ngoài lề, vậy kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sẽ giảm bớt nhiều, bởi vì cộng thêm giá thành sản xuất, giá thành kinh doanh , giá thành thuế..., thì giá cả hàng hóa của Trung Quốc không thể cạnh tranh được với hàng hóa trong hệ thống TPP, cũng có nghĩa là các nước lớn nhập khẩu như Mỹ có thể sẽ không nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc, như vậy xuất siêu thương mại của Trung Quốc có thể sẽ giảm mạnh.

Xuất siêu thương mại của Trung Quốc giảm mạnh, thì giao dịch ngoại hối của Trung Quốc sẽ giảm mạnh, dự trữ ngoại hối cũng sẽ giảm theo, thậm chí có thể xuất hiện tình trạng nhập siêu mang tính thường xuyên, bởi dầu thô, quặng sắt… mà Trung Quốc nhập khẩu là nhu cầu tất yếu. Từ đó Trung Quốc có thể từ nước thương mại lớn nhất thế giới bị đẩy lùi xuống thành nước thương mại đang phát triển, từ nước xuất siêu thương mại lớn nhất thế giới có thể đẩy lùi xuống thành nước nhập siêu thương mại lớn nhất thế giới, từ nước dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới có thể xuống thành nước dự trữ ngoại hối ít nhất.

Ngoài ra, việc Trung Quốc bị gạt ra ngoài TPP tiếp theo sẽ xuất hiện những hậu quả nặng nề, nghĩa là một số lượng lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ rút khỏi Trung Quốc, việc này sẽ tác động rất lớn đến kinh tế Trung Quốc hiện nay, bởi các sản phẩm mà những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài này sản xuất ở Trung Quốc sẽ không có sức cạnh tranh.

Mục đích của Mỹ?

Mỹ thông qua đàm phán TPP có thể phát huy vai trò cân bằng đối với Hiệp định thương mại tự do (FTA) Trung Quốc-ASEAN, làm yếu đi sức ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc trong khu vực này, đảm bảo lợi ích địa chính trị, kinh tế và an ninh của Mỹ ở Đông Á. Đạt được đàm phán, Mỹ sẽ đặt ra các quy tắc mới về các mặt như quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn lao động… Mặt khác, do khu vực thương mại tư do có đặc trưng mở cửa đối nội, hạn chế đối ngoại, đồng thời với việc rào cản thương mại giữa các nước thành viên giảm bớt, lại tạo thành rào cản cao hơn đối với các nền kinh tế ngoài khu vực, nên sẽ nảy sinh hiệu quả chuyển dịch thương mại. Mục tiêu chiến lược cơ bản mà Mỹ tích cực thúc đẩy TPP chính là duy trì và mở rộng bản đồ tài nguyên của mình, xây dựng lại hệ thống tín dụng, tiếp tục duy trì địa vị bá quyền siêu cường của Mỹ.

Có quan điểm cho rằng thương mại tự do là một trong những quan niệm giá trị trọng tâm của Mỹ kể từ thành lập nước, do vậy việc thúc đẩy tự do thương mại quốc tế đối với Mỹ là việc hợp logic. WTO vốn phải gánh một phần trách nhiệm, nhưng hiện nay WTO đang rơi vào bế tắc, ngày càng suy thoái. Một khi đạt được thỏa thuận thì WTO sẽ chỉ tồn tại trên danh nghĩa./.

Nguồn: Việt Nam +