Công ty Luật Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 334 Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Điện thoại: 0911666884- 0924.488.884.

Công ty Đấu giá Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 07 Khúc Hạo, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng

Kim Trọng Hùng Group Kính chào Các bạn

Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng. Website:luatkimtronghung.com.

Luật sư Vũ Trọng Kim-CT Hội cựu TNXP

Ủy viên trung ương ĐCS khóa VIII, IX, X, XI. Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XIII, XIV.

Luật sư Nguyễn Cao Hùng-Giảng viên thỉnh giảng Luật Đầu tư

Tác giả sách: 200 câu hỏi đáp về Khiếu nại, tố cáo. Đồng tác giả sách: Bình luận KH BLTTHS 2015-XNB CAND

Hiển thị các bài đăng có nhãn Sở hữu trí tuệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sở hữu trí tuệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

Hát quốc ca có phải trả tiền?

Hát quốc ca có phải trả tiền? 

Khi nói đến quyền tác giả là nói tới các hành vi chỉ có thể do tác giả thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện đối với những sáng tạo văn học nghệ thuật của mình - quyền độc quyền. 

Điều này nhấn mạnh một thực tế mà hầu hết luật pháp các nước đều công nhận tác giả có các quyền đặc biệt đối với sáng tạo của mình, và chỉ duy nhất tác giả được thực hiện quyền ngăn chặn việc cắt xén, xuyên tạc. Các quyền khác như quyền làm bản sao tác phẩm, quyền biểu diễn trước công chúng, người khác có thể thực hiện nhưng chỉ khi được tác giả cho phép. 

Hát quốc ca có phải trả tiền?

Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung 2009 của Việt Nam (Luật SHTT) quy định tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền nhất định như: 
  • làm tác phẩm tái sinh;
  • biểu diễn tác phẩm trước công chúng (là biểu diễn bất cứ nơi nào ngoại trừ tại gia đình, theo đó người nào biểu diễn một tác phẩm nghệ thuật, hát hay ngâm thơ ngay tại gia đình thì không phải xin phép và trả nhuận bút cho tác giả - Khoản 1 Điều 23 nghị định 100/2006/NĐ-CP), sao chép tác phẩm
        ... 

Tổ chức, cá nhân khi khai thác , sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền này phải xin phép và trả tiền thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Gần đây truyền thông rộ lên các thông tin về Trung tâm quyền tác giả văn học Việt Nam (VLCC) đạt được thắng lợi bước đầu khi thu được một khoản tác quyền từ Nhà xuất bản Giáo dục cho các tác giả có tác phẩm được in trong sách giáo khoa. Hay Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) đòi thu tác quyền tác phẩm Tiến quân ca (Quốc ca) của cố nhạc sĩ Văn Cao. 

Dưới nhãn quan pháp lý vấn đề này được quy định như thế nào theo Luật SHTT Việt Nam?

Hát Quốc ca có phải trả tác quyền? 


Hát quốc ca có phải trả tiền?

Quốc ca là một hình thức tác phẩm âm nhạc và được sáng tạo ra bởi một con người cụ thể. Tuy nhạc sĩ Văn Cao đã qua đời, theo Luật SHTT, tác phẩm Tiến quân ca vẫn còn trong thời hạn được bảo hộ. Cho đến thời điểm hiện hành, không có một quy định pháp luật nào minh thị việc sử dụng tác phẩm Quốc ca là được miễn trừ, không phải trả nhuận bút hay thù lao cho tác giả. Do vậy việc sử dụng ca khúc này vẫn phải được điều chỉnh bởi Luật SHTT. 

Như vậy khi ca khúc Tiến quân ca được sử dụng trong các trường hợp sinh hoạt văn hóa, chính trị, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào, thì tổ chức, cá nhân không phải xin phép và không phải trả nhuận bút, thù lao cho tác giả (nay là các đồng thừa kế của tác giả). 

Tuy nhiên, trong các chương trình ca múa nhạc phục vụ các ngày lễ của đất nước, thiết nghĩ nếu có sử dụng tác phẩm Tiến quân ca thì vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán tác quyền cho các thừa kế của tác giả Văn Cao. Bởi trong khi ban nhạc, ca sĩ, đạo diễn, diễn viên múa, các tác giả có tác phẩm sử dụng trong chương trình được trả thù lao, trả tác quyền, thì không lý gì tác phẩm Tiến quân ca lại bị “làm ngơ”, bởi lý do đó là Quốc ca. 

Hoặc những sản phẩm CD hay DVD nhạc lễ, các đơn vị sản xuất ra để kinh doanh thương mại mà không trả bản quyền cho tác giả Quốc ca, đây cũng là một hành vi vi phạm Luật SHTT. Tất cả điều này sẽ là một bất công đối với tác giả quá cố cũng như các đồng thừa kế của tác giả. 

Có thông tin phu nhân của cố nhạc sĩ Văn Cao đã làm văn bản hiến tặng tác phẩm Tiến quân ca cho Nhà nước, tuy nhiên việc hiến tặng này chỉ có giá trị pháp lý khi các đồng thừa kế cùng đồng ý. 

Do vậy, việc VCPMC (trên cơ sở có văn bản ủy quyền của các đồng thừa kế) yêu cầu các tổ chức, cá nhân có sử dụng tác phẩm Tiến quân ca phải thanh toán thù lao cho các đồng thừa kế của tác giả Văn Cao là một việc làm phù hợp với pháp luật, đảm bảo sự công bằng cho cố tác giả cũng như các đồng thừa kế.

Thu tiền tác quyền cho các tác giả có tác phẩm được in trong sách giáo khoa


Hát quốc ca có phải trả tiền?

Như đã phân tích ở phần trên, quyền tác giả là một sự độc quyền của tác giả do đó bất luận tổ chức, cá nhân nào khi sử dụng tác phẩm nhằm mục đích thương mại đều phải xin phép và trả tiền nhuận bút cho chủ sở hữu quyền tác giả. 

Việc VLCC yêu cầu Nhà xuất bản Giáo dục thực hiện nghĩa vụ thanh toán tác quyền cho các tác giả là phù hợp với Luật SHTT, bởi SGK do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành là một hành vi thương mại (có mua bán). 

Ngoài ra, đây là trường hợp Luật SHTT quy định phải xin phép tác giả, do đó việc Nhà xuất bản Giáo dục chưa xin phép tác giả mà đã in sách là hành vi trái pháp luật. 
Khoản 5 Điều 1 Nghị định 85/2011/NĐ-CP quy định: “Quyền sao chép tác phẩm là một trong các quyền tài sản độc quyền thuộc quyền tác giả, do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử”.

Sao chép tác phẩm là tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào, in sách giáo khoa là một dạng sao chép truyền thống, thông thường nhất. Như vậy các tác phẩm văn học nghệ thuật như âm nhạc, thơ, hội họa, văn học, … không phân biệt ngắn hay dài, hay hay dở, bất cứ người nào muốn khai thác thương mại đều phải xin phép và trả nhuận bút cho chủ sở hữu quyền tác giả. 

Ngoài ra, luật pháp (Điều 25 Luật SHTT) cũng có trù liệu sự hạn chế độc quyền của tác giả trong một số trường hợp nhất định mà theo đó người sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép và không phải trả thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả.

Trường hợp không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút cho chủ sở hữu quyền tác giả.


Hát quốc ca có phải trả tiền?

Điều 26 Luật SHTT chỉ dự liệu một trường hợp duy nhất được sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả nhuận bút  đó là trường hợp các tổ chức phát sóng như các Đài phát thanh, truyền hình được quyền sử dụng tác phẩm đã công bố để phát sóng. Theo đó, dù rằng có tài trợ, quảng cáo, thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào hay không thì các tổ chức này phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả. 

Việc Nhà xuất bản Giáo dục in sách các tác phẩm (đã công bố) của các nhà thơ, nhà văn không thuộc đối tượng được áp dụng theo điều này, do đó muốn in, Nhà xuất bản Giáo dục cần phải xin phép và trả thù lao cho các nhà thơ, nhà văn có tác phẩm điều đó mới đúng tinh thần của luật pháp.

Nguồn: Ls. Lê Quang Vy

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2015

Để xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu

Để xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu

 

 

 

 

(TBKTSG) - Gần đây, dư luận chú ý nhiều đến vụ việc một công ty sản xuất mì gói tuyên bố đang hoàn thành các thủ tục pháp lý để khởi kiện đối thủ về hành vi xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu (trademark) vì cho rằng đối thủ đã sử dụng bao bì gần giống sản phẩm của mình. Trong một vụ việc khác, hai công ty sữa đang tranh cãi chưa ngã ngũ về việc cùng phát triển các dòng sản phẩm cho trẻ em có chung tên gọi.
Mặc dù các bên đang chờ cơ quan có thẩm quyền phân xử để có kết quả cuối cùng, các vụ việc này cho thấy một thực tế là việc bảo hộ nhãn hiệu, một trong những tài sản quan trọng nhất của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào tham gia sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, vẫn chưa được các doanh nghiệp chú trọng đúng mức dẫn đến các tranh chấp không cần thiết, thậm chí là bị cáo buộc vi phạm hoặc “mất” nhãn hiệu vào tay của doanh nghiệp khác.
Trong phạm vi bài này, người viết nêu một số điểm quan trọng doanh nghiệp cần lưu ý để có thể thực hiện những bước cần thiết xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu, giúp doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí pháp lý, và chi phí rủi ro trong quá trình kinh doanh của mình.
Cần có nhận thức đầy đủ về nhãn hiệu
Nếu tên thương mại được dùng để phân biệt các doanh nghiệp với nhau, thì nhãn hiệu được dùng để phân biệt sản phẩm của các doanh nghiệp; do vậy, người ta thường hiểu nhãn hiệu là tên gọi của sản phẩm.
Tuy nhiên, trên phương diện pháp lý nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau (khoản 16 điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT)). Như vậy, nhãn hiệu không chỉ bao gồm chữ cái (tên gọi của sản phẩm), mà còn có thể bao gồm những dấu hiệu có thể nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc (khoản 1 điều 72 Luật SHTT). Với ý nghĩa là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp, để được bảo hộ, nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác, hay nói cách khác nhãn hiệu đó phải có tính đặc trưng giúp cho người tiêu dùng có thể dễ nhận biết và ghi nhớ hàng hóa, dịch của chủ sở hữu đó.
Nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu là bảo hộ tổng thể
Chính vì vậy, khi xây dựng nhãn hiệu, các doanh nghiệp cần chú ý không chỉ các yếu tố cấu thành của nhãn hiệu mà cả ý nghĩa tổng thể của nhãn hiệu đó. Ví dụ trong trường hợp tranh chấp giữa hai công ty sản xuất mì gói, tên gọi của sản phẩm mà bên bị khiếu nại sử dụng tuy khác với tên gọi trong nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ của bên khiếu nại, nhưng bên khiếu nại cho rằng mẫu bao bì của bên bị khiếu nại có cách trình bày, kiểu chữ, tổ hợp màu sắc tạo thành một tổng thể tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ nên đã xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu của mình. Quan điểm này của bên khiếu nại đã được cục SHTT ủng hộ.
Để hạn chế trường hợp một bên thứ ba sử dụng một phần nhãn hiệu của mình dẫn đến gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, khi đăng ký bảo hộ cho một nhãn hiệu, các doanh nghiệp cũng có thể tiến hành đăng ký bảo hộ riêng rẽ cho từng dấu hiệu trong nhãn hiệu nếu chúng đáp ứng các điều kiện về khả năng phân biệt thì mới có thể được bảo hộ.
Trường hợp của nhãn hiệu mỹ phẩm Sắc Ngọc Khang là một ví dụ điển hình. Công ty Hoa Thiên Phú đã đăng ký bảo hộ phần chữ Sắc Ngọc Khang như một nhãn hiệu riêng biệt và được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận từ năm 2013. Nhờ vậy, Công ty Hoa Thiên Phú đã có thể yêu cầu Thanh tra Bộ Khoa học Công nghệ tuýt còi Công ty Tân Đại Dương vì sử dụng cụm từ này trên sản phẩm của mình gây ra nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
Nộp đơn xin bảo hộ càng sớm càng tốt
Quyền sở hữu đối với nhãn hiệu có thể được xác lập thông qua hai cơ chế là đăng ký với cơ quan có thẩm quyền hoặc tự động xác lập khi đáp ứng một số điều kiện nhất định. Hiện nay, cơ chế tự động chỉ được áp dụng đối với nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Các nhãn hiệu nổi tiếng thường là các nhãn hiệu đã tồn tại lâu đời, được sử dụng rộng rãi trên nhiều quốc gia và được nhiều người biết đến. Chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng không cần phải tiến hành đăng ký bảo hộ đối với nhãn hiệu của mình và có quyền yêu cầu tòa án hoặc cục sở hữu trí tuệ xem xét và công nhận nhãn hiệu nổi tiếng trong từng vụ việc cụ thể, ví dụ như khi phát hiện có doanh nghiệp khác sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của mình.
Đối với các nhãn hiệu thông thường, quyền sở hữu chỉ được xác lập khi tiến hành đăng ký nhãn hiệu với cục SHTT. Các quy định pháp luật hiện nay về bảo hộ nhãn hiệu áp dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên, để chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu của người đăng ký trước dựa vào ngày nộp đơn. Hay nói cách khác, trong trường hợp có nhiều người nộp đơn khác nhau cùng đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn, người đăng ký trước sẽ được xem xét cấp văn bằng bảo hộ nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện quy định của pháp luật.
Tại Việt Nam, quá trình đăng ký xác lập quyền sở hữu đối với một nhãn hiệu có thể kéo dài từ 13-18 tháng, trải qua hai giai đoạn chính là xét nghiệm hình thức và xét nghiệm nội dung, trong khi các doanh nghiệp thường không thể đợi cho đến khi xác lập được quyền sở hữu này rồi mới đưa sản phẩm ra thị trường. Do vậy, các doanh nghiệp có thể vận dụng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên để đảm bảo việc xác lập quyền của mình bằng cách nộp đơn xin bảo hộ nhãn hiệu vào thời điểm sớm nhất có thể.
Ngoài ra, do Việt Nam là thành viên của Công ước Madrid, pháp luật SHTT Việt Nam cũng áp dụng nguyên tắc quyền ưu tiên. Theo đó, nếu một người đã nộp đơn hợp lệ lần đầu tiên tại một quốc gia thành viên khác của Công ước Madrid về đăng ký nhãn hiệu Quốc tế (CU Madrid) có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu đó tại Việt Nam và đơn nộp sau đó được coi như nộp cùng ngày với đơn đầu tiên. Nguyên tắc này cũng được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp Việt Nam muốn đăng ký nhãn hiệu tại một quốc gia khác là thành viên của Nghị định thư Madrid.
Tra cứu sơ bộ trước khi quyết định nộp đơn
Quá trình 18 tháng kể từ lúc nộp tờ khai đăng ký nhãn hiệu đến khi có quyết định dự định cấp văn bằng bảo hộ từ Cục SHTT, doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nguy cơ không xác lập được quyền sở hữu nhãn hiệu do không đáp ứng yêu cầu về nội dung (đối tượng nêu trong đơn không đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ mà luật SHTT quy định). Hồ sơ xin bảo hộ có thể bị từ chối vì nhiều lý do khác nhau (như ký tự không có nghĩa, sử dụng địa danh, tên riêng,...), tuy nhiên nguyên nhân bị từ chối phổ biến là trùng với một nhãn hiệu đã được cấp bảo hộ hoặc được người khác đăng ký.
Công việc tra cứu sơ bộ cần được tiến hành song song với quá trình phát triển sản phẩm, bởi lẽ nó sẽ giúp doanh nghiệp có chiến lược marketing đúng đắn, rút ngắn thời gian đăng ký và tiết kiệm chi phí. Quan trọng hơn hết, việc tra cứu sơ bộ giúp cho doanh nghiệp có thể kịp thời tiến hành đăng ký với cơ quan có thẩm quyền để xác lập quyền của mình theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên.
Lưu ý rằng, nhãn hiệu có thể gồm chữ và hình, doanh nghiệp có thể đăng ký bảo hộ chữ và hình cùng nhau hoặc riêng lẻ, do đó, khi tra cứu, cần phải tra cứu cả phần chữ, phần hình, nhóm sản phẩm sử dụng nhãn hiệu để từ đó có thể xác định được nhãn hiệu đối ứng một cách chính xác.
Bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài
Quyền sở hữu nhãn hiệu sẽ chỉ được thừa nhận trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đăng ký. Nghĩa là nhãn hiệu được bảo hộ tại Việt Nam không đương nhiên được bảo hộ tại thị trường Hoa Kỳ. Trong thời gian qua đã có một số nhãn hiệu Việt Nam bị đăng ký tại nước ngoài khiến cho doanh nghiệp tốn kém không ít chi phí khi muốn mở rộng thị trường. Chi phí đăng ký và duy trì một nhãn hiệu thường không nhiều, do vậy, các doanh nghiệp chủ động lên kế hoạch kinh doanh để đăng ký tại quốc gia nơi dự định xuất khẩu hàng hóa dịch vụ trong tương lai gần.
Hiệu lực của văn bằng bảo hộ
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn. Chủ sở hữu có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm. Kể từ thời điểm văn bằng bảo hộ nhãn hiệu được cấp, chủ thể có quyền độc quyền khai thác, sử dụng, định đoạt và ngăn cản bất kỳ bên thứ ba nào sử dụng nhãn hiệu hoặc các dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu đã được đăng ký.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, theo quy định hiện hành nhãn hiệu không được sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục sẽ có thể bị yêu cầu chấm dứt hiệu lực, trừ trường hợp được sử dụng hoặc sử dụng lại trước ít nhất ba tháng tính đến ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực. Do vậy, doanh nghiệp cần có kế hoạch khai thác nhãn hiệu phù hợp để tránh bị hủy bỏ văn bằng bảo hộ.
Nguồn: TS.Nguyễn Anh TuấnCông ty Luật TNHH LNT & Thành viên

Phân biệt các ký hiệu ®, ™, SM và © đi kèm thương hiệu

Phân biệt các ký hiệu ®, ™, SM và © đi kèm thương hiệu 

Phân biệt các ký hiệu ®, ™, SM và © đi kèm thương hiệu

Chắc hẳn chúng ta không lạ lẫm gì với các biểu tượng ®, ™, SM và © đi kèm với tên sản phẩm, thương hiệu hay bao bì, nhưng đôi lúc không hiểu các biểu tượng đó có nghĩa là gì, cách sử dụng như thế nào, và dùng sai có bị phạt không?

Đây là các ký hiệu liên quan đến sự bảo hộ của đối tượng sở hữu trí tuệ, mà thuật ngữ ngành luật gọi là “tình trạng pháp lý” của đối tượng đó.

Ở VN thì Luật SHTT không quy định lúc nào thì được sử dụng các ký tự này. Nhưng đặc thù “tính quốc tế” của SHTT nên VN vẫn áp dụng các thông lệ quốc tế về lý giải ghi chú tình trạng pháp lý của đối tượng, theo đó:

1. Trademark (Nhãn hiệu) - ™


Phân biệt các ký hiệu ®, ™, SM và © đi kèm thương hiệu

Trademark là những ký hiệu để phân biệt sản phẩm dịch vụ hoặc của chính một công ty này với sản phẩm/dịch vụ của một công ty khác.

Dùng TM khi nhãn hiệu đó chưa được hoặc không được bảo hộ nhưng chủ sở hữu muốn dùng biểu tượng đó như một nhãn hiệu và khẳng định quyền của mình đối với nhãn hiệu đó để cảnh báo bên thứ 3 không nên xâm phạm. 

TM không có nghĩa rằng đó là một nhãn hiệu đã được bảo hộ, do vậy nếu nhãn hiệu nào đã được bảo hộ mà gắn TM vào sẽ khiến người khác mặc định đó là nhãn hiệu chưa được bảo hộ.

Một số cá nhân/tổ chức sử dụng ký hiệu SM thay cho TM, ký hiệu này được hiểu giống như ký hiệu TM, nhưng SM có nghĩa là (Service Mark – Nhãn hiệu dịch vụ), khi dùng SM thì người ta hiểu nhãn hiệu đó là nhãn hiệu dùng cho nhóm dịch vụ chứ không phải là nhóm hàng hóa. 
*Nhiều quốc gia phân ra Nhãn hiệu hàng hóa và Nhãn hiệu dịch vụ.

2. Registered (đã đăng ký bảo hộ) - ®


Phân biệt các ký hiệu ®, ™, SM và © đi kèm thương hiệu

Ký hiệu này có hàm ý thương hiệu đã đăng ký bảo hộ với cơ quan nhà nước, vì vậy trong các trường hợp, thương hiệu đã được đăng ký thì sử dụng ký hiệu này để thông tin cho người tiêu dùng biết là thương hiệu đó đã được pháp luật bảo hộ. Nếu chưa được bảo hộ mà dùng ký tự này là sai.

3. Copyrighted (bản quyền) - ©


Phân biệt các ký hiệu ®, ™, SM và © đi kèm thương hiệu

Đây là ký hiệu dùng để tuyên bố đối tượng đó đã được bảo hộ độc quyền, nghiêm cấm tất cả mọi tổ chức, cá nhân sử dụng một sản phẩm, dịch vụ hay một ý tưởng nào đó nếu chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu.

Khác với Trademark và Registered chỉ sử dụng trong lĩnh vực kinh doanh, Copyrighted áp dụng cho tất cả những nơi có sự xuất hiện của sáng tạo, của tác giả, của người tạo ra tác phẩm/ ý tưởng/ thông tin…

Nếu sử dụng sai biểu tượng?


Phân biệt các ký hiệu ®, ™, SM và © đi kèm thương hiệu

Mặc dù Luật VN không quy định nó là gì, được sử dụng ra sao, nhưng lại quy định sử dụng sai sẽ bị phạt (!).

Cụ thể, theo Điều 6 Nghị định 99/2013/NĐ-CP, vi phạm quy định về chỉ dẫn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp quy định: 

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) …..
b) Chỉ dẫn sai về tình trạng pháp lý, phạm vi bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp;
c) …. 


2. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) ….
b) Buộc cải chính công khai đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều này;
c) …. 


Như vây ở điểm b được hiểu là chế tài cho việc sử dụng sai các ký hiệu này và ghi các chỉ dẫn như: “nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ độc quyền”, “nhãn hiệu đã được bảo hộ”, “nhãn hiệu thuộc độc quyền của… ” dù chưa được bảo hộ. Cụ thể sẽ bị phạt hành chính bằng tiền và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả như trên.

Nguồn: Luật Sư Đậu Thị Quyên

Sở hữu trí tuệ và những kiến thức căn bản

Sở hữu trí tuệ và những kiến thức căn bản

Sở hữu trí tuệ
Các doanh nghiệp luôn nên cân nhắc sử dụng hệ thống sở hữu trí tuệ để bảo vệ sản phẩm sáng tạo và sáng chế của mình. Hệ thống này mang lại cho các cá nhân, doanh nghiệp các độc quyền sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thương hiệu…và các tài sản vô hình khác trong một thời gian nhất định. Ngoài ra, pháp luật sở hữu trí tuệ còn hạn chế phạm vi sao chép và bắt chước của các đổi thủ cạnh tranh một cách đáng kể.
Sau đây là 5 loại hình sở hữu trí tuệ phổ biến nhất:

Sở hữu trí tuệ

Bằng độc quyền sáng chế mang lại cho chủ sở hữu độc quyền ngăn cấm người khác khai thác thương mại sáng chế trong một thời hạn nhất định đổi lại việc họ phải bộc lộ sáng chế cho công chúng.
*Chú ý: sáng chế còn có thể được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếu đáp ứng 2 điều kiện sau: a) có tính mới b) có khả năng áp dụng công nghiệp. Khác với bằng độc quyền sáng chế, bằng độc quyền hữu ích chỉ có hiệu lực trong 10 năm.

Sở hữu trí tuệ

Theo luật Việt nam, mọi dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc đều có thể trở thành nhãn hiệu được bảo hộ nếu nó có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu với hàng hóa, dịch vụ của bên khác.

*Hầu hết các văn bản pháp luật ở Việt Nam chỉ dùng từ nhãn hiệu, chứ không dùng từ thương hiệu. Vì vậy trong phạm vi bài viết này có thể coi 2 từ này là 1.
*Nhãn hiệu khác tên thương mại. Tên thương mại là tên gọi đầy đủ của doanh nghiệp.
*Logo công ty là một loại nhãn hiệu.

Sở hữu trí tuệ

Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này.

Sở hữu trí tuệ

Quyền tác giả là phần cốt lõi của pháp luật nhằm trao cho tác giả, nghệ sĩ và các nhà sáng tạo khác sự bảo hộ cho những sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học

Sở hữu trí tuệ

Thông tin kinh doanh bí mật bất kỳ tạo cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh có thể được coi là bí mật kinh doanh. Bí mật kinh doanh này chỉ được bảo hộ khi nó không phải là hiểu biết thông thường và nó được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết

Ngoài ra, một sản phẩm duy nhất có thể được bảo hộ bởi nhiều loại quyền sở hữu trí tuệ khác nhau. Hãy lấy chiếc iPhone của Apple ra làm ví dụ:

Sở hữu trí tuệ

Khi doanh nghiệp đưa ra một sản phẩm mới ra thị trường, phải xem xét cái gì trong sản phẩm của mình là thu hút khách hàng nhất? Cái gì là làm sản phẩm của mình khác biệt hơn? Đặc điểm kỹ thuật sáng tạo? Kiểu dáng sản phẩm? Thương hiệu? Hay là sự kết hợp của nhiều yếu tố khác nhau? Tùy theo đặc điểm của thị trường, sự chú trọng và nguồn lực có thể được dành cho một hoặc nhiều loại quyền sở hữu trí tuệ khác nhau trong một sản phẩm cụ thể.

Thay cho lời kết, Các nhà khởi nghiệp, doanh nghiệp hãy bắt đầu bảo hộ ít nhất là nhãn hiệu. Trong hầu hết các trường hợp, nhãn hiệu chưa có giá trị vào thời điểm khai trương sản phẩm nhưng sự thành công của sản phẩm sẽ làm tăng giá trị nhãn hiệu ngay lập tức và trở thành một bộ phận quan trọng về hình ảnh và bản sắc của sản phẩm.
Nguồn tham khảo: EZLaw

Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm

Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm 



Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm

Sau đây là hướng dẫn về thủ tục đăng kí nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm của 1 công ty.

1. Hồ sơ cần có


Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm

Đối với các đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, ngoài các tài liệu quy định trên đây, đơn còn bắt buộc phải có những tài liệu sau:
(Nhãn hiệu tập thể thường là của một hiệp hội hoặc một tập thể mà các thành viên của nó có thể sử dụng nhãn hiệu tập thể để quảng bá sản phẩm của mình ví dụ như Rượu Tuy Lộc, Vải thiều Thanh Hà, gốm Bát Tràng... ).

Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm

2. Thời hạn xem xét đơn


Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm

Thẩm định hình thức: là việc đánh giá tính hợp lệ của đơn theo yêu cầu về hình thức, về đối tượng loại trừ, về quyền nộp đơn... để từ đó đưa ra kết luận đơn hợp lệ hay không.

Công bố: Nội dung công bố đơn đăng ký nhãn hiệu trên Công báo là các thông tin liên quan tới đơn hợp lệ ghi trong thông báo chấp nhận đơn hợp lệ, mẫu nhãn hiệu và danh mục hàng hoá, dịch vụ kèm theo.

Thẩm định nội dung: nếu trong quá trình thẩm định nội dung đơn, người nộp đơn chủ động hoặc theo yêu cầu của Cục tiến hành việc sửa chữa đơn, bổ sung tài liệu hoặc giải trình thì thời hạn thẩm định nội dung được kéo dài thêm tương ứng với thời hạn dành cho người nộp đơn thực hiện các công việc đó.

3. Cách thức nộp đơn




4. Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu


Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm

Doanh nghiệp được gia hạn văn bằng bảo hộ và không hạn chế số lần gia hạn. Do vậy, nhãn hiệu sẽ là tài sản xuyên suốt quá trình hoạt động, kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn: LS Trần Vũ Hải
*Các bạn có thể xem nguồn bài viết này từ văn phòng luật sư Trần Vũ Hải tại đây.