Công ty Luật Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 334 Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Điện thoại: 0911666884- 0924.488.884.

Công ty Đấu giá Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 07 Khúc Hạo, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng

Kim Trọng Hùng Group Kính chào Các bạn

Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng. Website:luatkimtronghung.com.

Luật sư Vũ Trọng Kim-CT Hội cựu TNXP

Ủy viên trung ương ĐCS khóa VIII, IX, X, XI. Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XIII, XIV.

Luật sư Nguyễn Cao Hùng-Giảng viên thỉnh giảng Luật Đầu tư

Tác giả sách: 200 câu hỏi đáp về Khiếu nại, tố cáo. Đồng tác giả sách: Bình luận KH BLTTHS 2015-XNB CAND

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2015

Vụ án 12: Kiện đòi lại sân trượt patin Mây Hồng ở thành phố Biên Hòa

Vụ án 12:
 Kiện đòi lại sân trượt patin Mây Hồng ở thành phố Biên Hòa

Không tìm thấy địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể giải quyết được vụ kiện không? Nghĩa vụ tìm địa chỉ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là nghĩa vụ của nguyên đơn hay bị đơn? Thế nào là quan hệ tranh chấp có thể tách ra giải quyết riêng?

Các nguyên đơn khởi kện đòi nhà, đất do ông Nguyễn Thanh và ông Nguyễn Tiếp đang quản lý, sử dụng vì cho rằng nguồn gốc đất có tranh chấp là của cụ Nguyễn Thị Chất (mẹ của các nguyên đơn) mua vào năm 1971, sau đó xây dựng thành sân trượt patin lấy tên Mây Hồng và làm một căn nhà bằng vật liệu nhẹ trên diện tích đất nêu trên. Cụ Chất đã khởi kiện từ 20/12/1994. Ngày 25/8/2004, cụ Chất chết, các con của cụ Chất (đều ủy quyền cho ông Nguyễn Đức Trinh) tiếp tục là nguyên đơn kiện đòi lại tài sản.

Ông Thanh và ông Tiếp trình bày: Nhà và sân patin được UBND phường giao cho hợp tác xã dệt Tân Phú từ năm 1984. Năm 1991, HTX dệt Tân Phú giải thể nên HTX (có 20 xã viên bao gồm cả ông Thanh và ông Tiếp) đã thống nhất bán cơ sở trên cho ông Thanh và ông Tiếp với giá 24 lượng vàng. Vì vậy, ông Thanh và ông Tiếp không đồng ý trả lại nhà, đất theo yêu cầu của các nguyên đơn.

Tại Quyết định số 12/2005/QĐ-ĐC ngày 12/8/2005, TAND tỉnh Đồng Nai đã đình chỉ việc giải quyết vụ án. Quyết định nêu trên đã bị kháng nghị giám đốc thẩm và Quyết định giám đốc thẩm đã giao cho TAND tỉnh Đồng Nại xét xử sơ thẩm lại.

Tại Quyết định số 07/2010/QĐST-DS ngày 23/9/2010, TAND tỉnh Đồng Nai lại đình chỉ giải quyết vụ án với lý do nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thành viên của HTX dệt Tân Phú. Ông Trinh kháng cáo. Tại Quyết định số 28/2011/QDDS-PT, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã giữ nguyên quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án của TAND tỉnh Đồng Nai. Quyết định phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.

Tại phiên họp ngày 12/11/2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án phúc thẩm và Quyết định sơ thẩm; giao cho TAND tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm lại. Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng sau:

Quyết định giám đốc thẩm xác định: Nghĩa vụ cung cấp địa chỉ của 18 thành viên HTX dệt Tân Phú là của ông Thanh, ông Tiếp chứ không phải của ông Trinh và các đồng nguyên đơn; nếu không cung cấp được địa chỉ thì tách quan hệ mua bán nhà giải quyết riêng ở vụ án khác.

Các nguyên đơn chỉ khởi kiện đòi lại tài sản (nhà, sân pa tin và đất khuôn viên theo nhà). Quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản chỉ có các chủ thể tham gia là bên chủ sở hữu (hoặc chủ sử dụng) với bên đang chiếm hữu tài sản. Quyền đòi lại tài sản của các nguyên đơn dựa trên cơ sở pháp lý quyền của chủ sở hữu (hoặc chủ sử dụng) được quyền đòi lại tài sản của họ bị chiếm hữu không theo ý chí của họ. Nếu xác định đúng là tài sản của nguyên đơn và không thuộc những trường hợp bị hạn chế quyền đòi lại (Điều 247, Điều 257, Điều 258 Bộ luật Dân sự) thì những người đang quản lý tài sản phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu bất kể lý do mà họ chiếm hữu là lý do gì. Do đó, ông Thanh và ông Tiếp nêu ra sự kiện đã mua nhà, sân patin của HTX Tân Phú nhưng nếu ông Thanh và ông Tiếp không yêu cầu giải quyết về quan hệ mua bán này thì Tòa án không được quyền giải quyết. Việc không giải quyết quan hệ mua bán giữa HTX Tân Phú với ông Thanh, ông Tiếp không cản trở Tòa án giải quyết quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản giữa nguyên đơn với ông Thanh, ông Tiếp. Nói cách khác là Tòa án vẫn quyết định chấp nhận việc đòi nhà của nguyên đơn, buộc ông Thanh , ông Tiếp trả lại tài sản cho nguyên đơn trong khi chưa giải quyết quan hệ mua bán giữa HTX với ông Thanh, ông Tiếp (quan hệ mua bán có thể giải quyết bằng vụ án riêng).

Nếu ông Thanh, ông Tiếp yêu cầu giải quyết quan hệ mua bán trong cùng vụ án đòi lại tài sản thì ông Thanh, ông Tiếp có nghĩa vụ cung cấp địa chỉ của những người có quyền lơi, nghiã vụ liên quan (nghĩa vụ của ông Thanh, ông Tiếp như nghĩa vụ của nguyên đơn trong vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà).

Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:

1.Đương sự nào yêu cầu giải quyết quan hệ tranh chấp nào thì có nghĩa vụ cung cấp địa chỉ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quan hệ tranh chấp đó. Phải xem xét nghĩa vụ cung cấp địa chỉ theo từng quan hệ tranh chấp chứ không phải chỉ có nguyên đơn có nghĩa vụ cung cấp địa chỉ của tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến các quan hệ tranh chấp mà các đương sự nêu ra trong vụ án.

2.Quan hệ có thể tách ra giải quyết riêng là trường hợp chưa giải quyết quan hệ tranh chấp ấy vẫn giải quyết được các quan hệ tranh chấp khác (các quan hệ còn lại trong vụ án).


Vụ án 11: Tranh chấp về thừa kế giữa chị Trang và bà Nguyệt đối với nhà 8/1A Khu phố 1, phường An Khánh, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh

Vụ án 11: 
Tranh chấp về thừa kế giữa chị Trang và bà Nguyệt đối với nhà 8/1A Khu phố 1, phường An Khánh, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh


Trong trường hợp nhà, đất thuộc di sản thừa kế bị giải tỏa, thu hồi thì khi nào nền đất hoặc nhà tái định cư được coi là di sản thừa kế.

Cụ Lại Văn Vĩ (chết năm 1983) và vợ là cụ Nguyễn Thị Thuận (chết ngày 20/01/2009) là chủ sở hữu nhà 8/1A Khu phố 1, phường An Khánh, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là nhà 8/1A). Cụ Vĩ và cụ Thuận là ông bà nội của nguyên đơn Lại Thị Thanh Trang và là cha mẹ của bị đơn Lại Thị Ánh Nguyệt (một trong 4 người con chung của cụ Vĩ và cụ Thuận).

Chị Trang có đơn khởi kiện chia thừa kế nhà 8/1A ngày 17/8/2009. Do nhà 8/1A nằm trong quy hoạch xây dựng khu đô thị Thủ Thiêm nên UBND Quận 2 đã có quyết định thu hồi đất và bồi thường thiệt hại do việc giải tỏa nhà và thu hồi đất.

Tại Quyết định số 14693/QĐ-UBND ngày 29/10/2009 của UBND Quận 2 có nội dung:
“ Điều 1: Bồi thường , hỗ trợ thiệt hại và tái định cư cho ông (bà) Lại Thị Ánh Nguyệt là đại diện các đồng thừa kế của ông Lại Văn Vĩ và bà Nguyễn Thị Thuận (đã chết) thường trú tại: 8/1A Tổ 4, Khu phố 1, phường An Khánh, Quận 2 có căn nhà (thửa đất) bị giải tỏa số 8/1A…Thuộc quy hoạch xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm với tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư là 1.043.697.700 đồng…
-Về tái định cư: được mua nền đất hoặc căn hộ chung cư theo giá tái định cư với diện tích tiêu chuẩn 200,00 m­2;”.

Tại Thông báo số 1873/TB-UBND ngày 29/10/2009 của UBND Quận 2 (Thông báo có nêu căn cứ Quyết định số 14693/QĐ-UBND ngày 29/10/2009 của UBND Quận 2) có nội dung:
“- Trường hợp chọ phương thức tái định cư thì được nhận số tiền 1.043.697.700 đồng…về tái định cư: được mua nền đất hoặc căn hộ chung cư với diện tích tiêu chuẩn là 200,00m2 theo giá tái định cư.
-Trường hợp chọn phương thức nhận toàn bộ bằng tiền hỗ trợ từ chính sách tái định cư thì được nhận số tiền là 4.243.697.700 đồng…”.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1165/2010/DS-ST ngày 12/8/2010, TAND thành phố Hồ Chí Minh đã xác định số tiền bồi thường hỗ trợ giải tỏa căn nhà 8/1A là di sản thừa kế của cụ Vĩ và cụ Thuận và có tổng giá trị là 4.243.697.700 đồng. Bà Nguyệt kháng cáo. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 251/2010/DS-PT ngày 09/11/2010, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã sửa bản án sơ thẩm, xác định di sản của cụ Vĩ và cụ Thuận chỉ là 1.043.697.700 đồng. Chị Trang có đơn yêu cầu giám đốc thẩm. Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.

Tại phiên họp ngày 18/12/2013, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy Bản án phúc thẩm và Bản án sơ thẩm; giao cho TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại. Quyết định giám đốc thẩm có một số vấn đề pháp lý quan trọng sau:

Ở thời điểm mở thừa kế thì di sản của cụ Vĩ và cụ Thuận là căn nhà 8/1A. Tuy nhiên, ở thời điểm giải quyết tranh chấp đã có quyết định của cấp có thẩm quyền xác định nhà 8/1A sẽ phải giải tỏa, di sản chắc chắn sẽ thay đổi nên phải xác định khoản tiền đền bù do giải tỏa nhà 8/1A mới là di sản thừa kế còn lại thực tế để chia cho các thừa kế. Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm đều xác định khoản tiền đền bù là di sản của cụ vĩ v à cụ Thuận là đúng nhưng đã xác định khác nhau về tổng giá trị của khoản đền bù này.

Bản án phúc thẩm xác định giá trị khoản đền bù căn cứ vào Quyết định số 14693/QĐ-UBND ngày 29/10/2009 của UBND Quận 2 là có căn cứ; tuy nhiên, xác định di sản thừa kế chỉ là 1.043.697.700 đồng, không bao gồm phần giá trị hỗ trợ tái định cư là không đúng. Để hiểu đúng tổng giá trị bồi thường cho chủ sở hữu (cụ Vĩ và cụ Thuận) phải căn cứ vào Thông báo số 1873/TB-UBND ngày 29/10/2009 của UBND Quận 2 (ban hành sau Quyết định số 14693, có nêu căn cứ Quyết định 14693). Thông báo này có nội dụng là quyết định của cơ quan có thẩm quyền (UBND Quận 2) vùa có giá trị giải thích rõ hơn nội dung của Quyết định 14693 vừa cho phép lựa chọn phương thức đền bù khác. Thông báo số 1873/TB-UBND đã nêu rõ “Trường hợp chọn phương thức nhận toàn bộ bằng tiền hỗ trợ từ chính sách tái định cư thì được nhận số tiền là 4.243.697.700 đồng”, và “bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư đối với ông (bà) Lại Thị Anh Nguyệt là đại diện các đồng thừa kế của ông Lại Văn Vĩ và bà Nguyễn Thị Thuận (đã chết)”. Như vậy, tổng di sản của cụ Vĩ và cụ Thuận được chuyển hóa từ căn nhà 8/1A là 4.243.697.700 đồng (bao gồm cả phần hỗ trợ tái định cư).

Bản án sơ thẩm đã xác định đúng giá trị di sản nhưng vẫn phải hủy án sơ thẩm để giải quyết sơ thẩm lại vì Bản án sơ thẩm đã không xem xét đến công sức của bà Nguyệt về việc chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ (người để lại di sản).

Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:

Trong trường hợp nhà, đất thuộc di sản thừa kế bị giải tỏa, thu hồi thì phần hỗ trợ tái định cư (nền đất,nhà tái định cư, hoặc quyền nhận chuyển nhượng nền đất hoặc mua nhà tái định cư…) vẫn thuộc di sản thừa kế nếu có căn cứ là một phần bồi thường bằng hiện vật chứ không phải là hỗ trợ riêng cho người đang sử dụng nhà, đất.


Thứ Hai, 3 tháng 8, 2015

80 từ nối phổ biến nhất trong văn nói và văn viết tiếng Anh

80 từ nối phổ biến nhất trong văn nói và văn viết tiếng Anh

1. Những từ dùng để thêm thông tin
  • and (và)
  • also (cũng)
  • besides (ngoài ra)
  • first, second, third… (thứ nhất, thứ hai, thứ ba…)
  • in addition (thêm vào đó)
  • in the first place, in the second place, in the third place (ở nơi thứ nhất, ở nơi thứ hai, ở nơi thứ ba)
  • furthermore (xa hơn nữa)
  • moreover (thêm vào đó)
  • to begin with, next, finally (bắt đầu với, tiếp theo là, cuối cùng là)

2. Những từ dấu hiệu chỉ nguyên nhân, hệ quả

  • Accordingly (Theo như)
  • and so (và vì thế)
  • as a result (Kết quả là)
  • consequently (Do đó)
  • for this reason (Vì lý do này nên)
  • hence, so, therefore, thus (Vì vậy)
  • then (Sau đó)

3. Những dấu hiệu chỉ sự so sánh

  • by the same token (bằng những bằng chứng tương tự như thế)
  • in like manner (theo cách tương tự)
  • in the same way (theo cách giống như thế)
  • in similar fashion (theo cách tương tự thế)
  • likewise, similarly (tương tự thế)

4. Những dấu hiệu chỉ sự đối lập

  • but, yet (nhưng)
  • however, nevertheless (tuy nhiên)
  • in contrast, on the contrary (Đối lập với)
  • instead (Thay vì)
  • on the other hand (Mặt khác)
  • still (vẫn)

5. Những từ dấu hiệu chỉ kết luận hoặc tổng kết

  • and so (và vì thế)
  • after all (sau tất cả)
  • at last, finally (cuối cùng)
  • in brief (nói chung)
  • in closing (tóm lại là)
  • in conclusion (kết luận lại thì)
  • on the whole (nói chung)
  • to conclude (để kết luận)
  • to summarize (Tóm lại)

6. Từ dấu hiệu để chỉ ví dụ

  • as an example
  • for example
  • for instance
  • specifically
  • thus
  • to illustrate

7. Những từ dấu hiệu chỉ sự khẳng định

  • in fact (thực tế là)
  • indeed (Thật sự là)
  • no (không)
  • yes (có)
  • especially (đặc biệt là)

8. Những từ dấu hiệu chỉ sự nhắc lại

  • in other words (nói cách khác)
  • in short (nói ngắn gọn lại thì)
  • in simpler terms (nói theo một cách đơn giản hơn)
  • that is (đó là)
  • to put it differently (nói khác đi thì)
  • to repeat (để nhắc lại)

9. Những từ chỉ dấu hiệu thời gian

  • afterward (về sau)
  • at the same time (cùng thời điểm)
  • currently (hiện tại)
  • earlier (sớm hơn)
  • formerly (trước đó)
  • immediately (ngay lập tức)
  • in the future (trong tương lai)
  • in the meantime (trong khi chờ đợi)
  • in the past (trong quá khứ)
  • later (muộn hơn)
  • meanwhile (trong khi đó)
  • previously (trước đó)
  • simultaneously (đồng thời)
  • subsequently (sau đó)
  • then (sau đó)
  • until now (cho đến bây giờ)

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

Vụ án 10: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa VietinBank và Công ty Ngọc Quang tại Bình Dương

Vụ án 10: 
Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa VietinBank và Công ty Ngọc Quang tại Bình Dương


Đáo hạn hợp đồng tín dụng (có biện pháp bảo đảm), bên vay không có khả năng trả nợ, bên cho vay có quyền tự xử lý tài sản thế chấp, cầm cố theo hợp đồng hay không?

Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Bình Dương (sau đây gọi tắt là VietinBank) và Công ty TNHH Ngọc Quang (sau đây gọi tắt là Công ty Ngọc Quang) đã ký kết với nhau nhiều hợp đồng tín dụng. Tính đến 2006, hai bên xác nhận còn lại 13 hợp đồng tín dụng quá hạn chưa thanh toán với tổng số tiền nợ gốc là 12.264.300.000 đồng. Để đảm bảo cho các khoản vay của 13 hợp đồng tín dụng này, hai bên đã ký kết với nhau 9 hợp đồng cầm cố, thế chấp.

Đến hạn thanh toán nợ, Công ty Ngọc Quang không thanh toán được nợ của 13 hợp đồng tín dụng trên, VietinBank căn cứ vào điều khoản xử lý tài sản cầm cố, thế chấp trong các hợp đồng cầm cố, thế chấp để tự mình bán các tài sản đã cầm cố, thế chấp cho Công ty Cổ phần Cơ khí Đồng Lực (sau đây gọi tắt là Công ty Đồng Lực) thu được 10.050.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán tài sản đã thanh toán cho một số hợp đồng tín dụng, nhưng công ty Ngọc Quang vẫn còn nợ VietinBank 5.273.000.000 đồng (gồm nợ gốc và lãi của các hợp đồng tín dụng chưa được thanh toán). VietinBank khởi kiện yêu cầu công ty Ngọc Quang thanh toán cho VietinBank số tiền 5.273.000.000 đồng.

Công ty Ngọc Quang cho rằng việc VietinBank tự ý xử lý tài sản cầm cố, thế chấp là vi phạm pháp luật về xử lý tài sản cầm cố, thế chấp; việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp phải do Tòa án quyết định. Công ty Ngọc Quang còn phản tố yêu cầu Tòa án tuyên bố các hợp đồng mua bán tài sản giữa VietinBank và Công ty Đồng Lực là vô hiệu.

Tại bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 20/2009/KDTM-ST ngày 30/9/2009, TAND tỉnh Bình Dương đã quyết định không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc VietinBank và Công ty Đồng Lực trả lại cho Công ty Ngọc Quang toàn bộ tài sản theo hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng cầm cố,thế chấp. Bản án sơ thẩm bị kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số 89/2010/KDTM-PT ngày 10/6/2010, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đã quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Nguyên đơn có khiếu nại. Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.

Tại phiên họp ngày 9/01/2014, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, giao cho TAND tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm lại. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán có vấn đề pháp lý quan trọng là:

Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm nhận định việc VietinBank xử lý tài sản bảo đảm không tuân theo trình tự thủ tục quy định tại Nghị định số 163/2006/CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ nhưng không đưa ra được căn cứ VietinBank đã vi phạm quy định nào của Nghị định cũng như các quy định khác của pháp luật.

Tại các hợp đồng cầm cố, thế chấp giữa VietinBank và Công ty Ngọc Quang đã có các thỏa thuận về việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, cụ thể là: “Trường hợp bên A vi phạm hợp đồng tín dụng thì phải chấp nhận phương thức xử lý tài sản cầm cố (hoặc tài sản thế chấp) của bên B” và “ Trường hợp bên A không trả được nợ cho bên B như đã thỏa thuận, bên B được toàn quyền xử lý tài sản cầm cố (hoặc thế chấp) để thu hồi nợ theo các phương thức do bên B quyết định như sau: Trực tiếp bán tài sản cầm cố (hoặc thế chấp) cho người mua”...

Theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm thì: “ Quyền sử dụng đất thế chấp được xử lý theo phương thức do các bên thỏa thuận; trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bán đấu giá để thanh toán nghĩa vụ”.

Theo quy định tại Điều 118 Luật nhà ở năm 2005 thì: “Việc xử lý nhà ở thế chấp để thực hiện nghĩa vụ được thực hiện thông qua hình thức bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác...”

Do vậy, VietinBank xử lý tài cầm cố, thế chấp theo thỏa thuận trong hợp đồng của các bên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:

Trong các hợp đồng tín dụng có biện pháp bảo đảm (cầm cố, thế chấp), các bên có thỏa thuận về việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp, trong trường hợp bên vay vi phạm hợp đồng hoặc không trả được nợ khi đến hạn thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản theo phương thức mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cầm cố, thế chấp nếu không có căn cứ xác định thỏa thuận đó vô hiệu.

Vụ án 9: Trần Văn Tính ở Quảng Ninh bị kết án về tội “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên”

Vụ án 9: 
Trần Văn Tính ở Quảng Ninh bị kết án về tội “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên”

Lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng có phải luôn luôn được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự? Có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng tại sao vẫn không thể cho hưởng án treo?

Trần Văn Tính sinh năm 1968; trú tại xã Yên Thọ, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Vườn nhà của Tính có diện tích 960 m2. Đầu năm 2010, Tính thuê máy xúc khai thác than ngay tại vườn nhà (thửa đất này nằm trong ranh giới quản lý tài nguyên của Công ty Than Mạo Khê). Tính đã khai thác than từ ngày 16/2/2010 đến 18/2/2010 với số lượng được xác định là 817 tấn than nguyên khai tương đương 569 tấn than sạch, trị giá 483 triệu đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2012/HSST ngày 28/2/2012, TAND tỉnh Quảng Ninh đã xử phạt Trần Văn Tính 12 tháng tù về tội ‘Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên”. Trần Văn Tính kháng cáo xin được hưởng án treo. Trước khi xét xử phúc thẩm, Tính đã nộp được 200 triệu đồng xung công quỹ.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 250/2012/HSPT ngày 28/6/2012, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội đã sửa án sơ thẩm, xử phạt Trần Văn Tính 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng. Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.

Tại phiên họp ngày 06/01/2014, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy Bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại. Quyết định giấm đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng sau:

Trần Văn Tính chỉ bị truy tố phạm vào Khoản 1 Điều 172 BLHS là tội ít nghiêm trọng nhưng xác định bị cáo có tình tiết giảm nhẹ”Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” là không đúng. Đây là trường hợp phạm tội công khai, chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an địa phương.

Trần Văn Tính có nhân thân tốt và cũng có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng không thể cho hưởng án treo vì tình hình phạm tội khai thác tài nguyên trái phép ở địa phương (Quảng Ninh) đang gia tăng, có diễn biến phức tạp nên việc cho hưởng án treo không bảo đảm được tính nghiêm minh của pháp luật, không đáp ứng được yêu cầu răn đe và phục vụ yêu cầu chính trị của địa phương.

Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:

Không phải cứ phạm tội ít nghiêm trọng là thuộc “trường hợp ít nghiêm trọng” quy định ở Điểm h Khoản 1 Điều 46 BLHS.

Có thể có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng vẫn không thể cho hưởng án treo vì yêu cầu răn đe, phòng ngừa chung.






Vụ án 8: Mua bán nhà 21-Phùng Khắc Khoan-Quận 1-TP. Hồ Chí Minh

Vụ án 08:

Hợp đồng mua bán nhà giữa tư nhân với tư nhân trong khi nhà mới đang làm thủ tục mua theo Nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ có hiệu lực hay vô hiệu? Thỏa thuận mua bán bằng vàng thì khi giao bằng tiền mặt có quy ra vàng để xác định số vàng đã giao hay không?

Căn nhà số 21 Phùng Khắc Khoan phường Đa Kao, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh được nhà nước cấp cho ông Phạm Hồng Thanh và bà Nguyễn Thị Lập để ở từ năm 1975. Ngày 15/3/2006, ông Thanh, bà Lập ký kết hợp đồng chuyển nhượng cho ông Lâm Thành Gia toàn bộ nhà 21 Phùng Khắc Khoan với giá 3000 lượng vàng SJC. Sau ký kết hợp đồng, ông Gia đã trả cho ông Thanh, bà Lập 100 lượng vàng SJC, 500.000.000đ và 2000USD. Ông Thanh, bà Lập sử dụng số tiền này để nộp tiền mua căn nhà 21 Phùng Khắc Khoan theo Nghị định số 61/CP. Sau đó, ông Thanh, bà Lập đã không tiếp tục thực hiện hợp ðồng bán nhà cho ông Gia.
Ông Lâm Thành Gia đã khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà ngày 15/3/2006, yêu cầu ông Thanh, bà Lập hoàn trả số vàng, ngoại tệ đã giao là 144,24 lượng vàng SJC 2.000 USD và bồi thường thiệt hại bằng số vàng và ngoại tệ đã giao. Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, ông Gia rút yêu cầu đòi bồi thường, chỉ yêu cầu đòi lại 143,59 lượng vàng SJC và 2.000USD.
Tại Bản án sơ thẩm số 16/2011/DSST ngày 18/4/2011 của TAND Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án phúc thẩm số 1509/2011/DS-PT ngày 08/12/2011 của TAND thành phố Hồ Chí Minh đều tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng trên là vô hiệu (do hai bên ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở khi bên chuyển nhượng chưa có quyền sở hữu  hợp pháp) và buộc ông Thanh, bà Lập trả cho ông Gia 143,59 lượng vàng SJC và 2.000USD được quy đổi ra đồng Việt Nam tại thời điểm thi hành án.
Bản án phúc thẩm đã bị Viện trưởng VKSND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 144/2013/DS-GĐT ngày 21/3/2013 Tòa Dân sự TAND tối cao đã không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên Bản án phúc thẩm.
Ngày 29/7/2013, Viện trưởng VKSND tối cao đã ra Quyết định kháng nghị số 83/QĐ-KNPT kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Quyết định giám đốc thẩm số 144/DS-GĐT của Tòa Dân sự TAND tối cao.
Tại phiên họp ngày 09/01/2014 Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng sau:
Kháng nghị giám đốc thẩm số 83/QĐ-KNGĐT của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng cả trong trường hợp hợp đồng vô hiệu hay có hiệu lực nhưng đã hủy thì các bên phải trả lại nhau những gì đã nhận; ông Gia giao 500.000.000đ nhưng lại buộc ông Thanh, bà Lập trả lại ông Gia bằng vàng (43,59 lượng vàng SJC) là không đúng.
Yêu cầu của nguyên đơn là xin hủy hợp đồng ký ngày 15/3/2006 và yêu cầu bị đơn trả lại tiền và vàng đã giao, trong đó số tiền 500.000.000đ được quy ra vàng theo thời giá lúc giao.
Vấn đề trước tiên cần xác định là tính chất của giao dịch là hợp pháp hay không hợp pháp. Nếu hợp đồng mua bán là vô hiệu thì việc xin hủy hợp đồng là không cần thiết phải xét do hợp đồng  không có hiệu lực thi hành, chỉ giải quyết hậu quả của tuyên bố vô hiệu theo quy định của pháp luật. Nếu là hợp đồng hợp pháp thì việc xin hủy hợp đồng phải được xem xét theo quy định của pháp luật và việc giải quyết hậu quả của hủy hợp đồng cũng sẽ khác chứ không theo quy định của giải quyết hậu quả của tuyên bố vô hiệu.
Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm đều xác định hợp đồng ngày 15/3/2006 vô hiệu do vi phạm điều cấm vì bên bán chưa có quyền sở hữu nhà, nhà vẫn thuộc sở hữu nhà nước; và do vậy đều xác định mọi thỏa thuận giữa hai bên không có giá trị và chỉ buộc các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận.
Thực tế hợp đồng ngày 15/3/2006 không phải có nội dung mua bán ngay căn nhà 21 Phùng Khắc Khoan mà là sẽ mua sau khi “Bên chuyển nhượng” mua xong nhà theo quy định của Nghị định 61/CP của Chính phủ. Do đó, “Hợp đồng chuyển nhượng” ngày 15/3/2006 là hợp đồng mua bán nhà có điều kiện theo quy định tại Điều 125 BLDS.
Tuy là hợp đồng có điều kiện, không vi phạm điều cấm, nhưng cũng là hợp đồng mua bán nhà nên chưa được công chứng, chứng thực đúng quy định thì cũng chưa có hiệu lực. Tuy chưa có hiệu lực đối với toàn bộ hợp đồng nhưng phần thỏa thuận về giao dịch đặt cọc trong hợp đồng thì đã có hiệu lực (theo quy định tại Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP).
Theo hợp đồng ngày 15/3/2006 thì giá nhà tính bằng vàng (3000 lượng) nên các đợt giao cũng đều quy định bằng vàng; mục “ trách nhiệm chung” còn quy định: “Nếu bên A thay đổi ý định không bán cho bên B thì phải bồi thường gấp đôi số vàng đã nhận của bên B”. Các thỏa thuận này không trái pháp luật và là thỏa thuận về đặt cọc nên đã có hiệu lực (có giá trị bắt buộc với các bên). Trong biên nhận vàng của ông Thanh cũng ghi rõ: “ông Gia đã đưa cho ông Thanh được 100 lượng vàng và 500.000.000đ (tương đương 37 lượng vàng)”. Tại phiên tòa sơ thẩm bà Lập cũng thừa nhận: “Theo thỏa thuận trong hợp đồng thì việc mua bán tính bằng vàng”, mặc dù có nêu điều kiện là “ phải đến thời điểm đưa đủ tiền thì mới quy ra vàng”. Vì vậy, yêu cầu của ông Gia đòi ông Thanh, bà Lập trả lại số vàng đã giao bằng tiền (500.000.000đ) là có căn cứ do ý chí của các bên đều là quy ra vàng, mặc dù thực tế khi giao gồm cả tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng.
Tuy đánh giá về tính chất của hợp đồng không chính xác nhưng Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm đều công nhận yêu cầu đòi lại tài sản đã giao quy ra vàng của ông Gia là có căn cứ (yêu cầu đòi bồi thường của ông Gia không phải là không có căn cứ nhưng ông Gia đã rút yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết). Do đó, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữ nguyên Quyết định giám đốc thẩm của Tòa Dân sự TAND tối cao (Quyết định của Tòa Dân sự đã giữ nguyên bản án phúc thẩm, có nghĩa quyết định của Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành).
Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
1. Cần phân biệt hợp đồng có điều kiện với hợp đồng bán tài sản không thuộc sở hữu của bên bán. Nếu thỏa thuận sẽ bán tài sản khi tài sản thuộc sở hữu của bên bán thì không phải là trường hợp vi phạm do bán tài sản không thuộc sở hữu của mình.
2. Những hợp đồng có điều kiện nếu thuộc loại pháp luật quy định  phải công chứng, chứng thực thì chỉ có hiệu lực sau khi đã công chứng, chứng thực hợp lệ.
3. Trong một hợp đồng chưa có hiệu lực vẫn chứa đựng những thỏa thuận có hiệu lực (như thỏa thuận đặt cọc trong hợp đồng mua bán nhà) nếu những thỏa thuận đó không trái pháp luật vì hợp đồng có thể chưa có hiệu lực vì chưa được công chứng, chứng thực nhưng thỏa thuận về đặt cọc thì không đòi hỏi phải công chứng, chứng thực.


Vụ án 7: Tranh chấp đất giữa bà Đào Thị Mia và ông Cao Văn Lâm tại Đồng Tháp

Vụ án 07:

Đất tranh chấp đã bị quy hoạch xây dựng công trình công cộng trước khi xét xử nhưng Tòa án và một bên đương sự không biết thì có thể coi đây là tình tiết để giải quyết vụ án theo thủ tục tái thẩm hay không?

Năm 1996,ông Lê Văn Giàu (chồng bà Đào Thị Mia) và ông Cao Văn Lâm ký thỏa thuận đổi đất, theo đó, ông Giàu đổi phần đất ruộng 68.000m2 để lấy 5.700m2 đất của ông Lâm; ông Giàu còn phải thanh toán chênh lệch giá đất cho ông Lâm là 114 chỉ vàng 24k. Năm 1997, ông Giàu giao cho ông Lâm 94 chỉ vàng 24k, ông Lâm tháo dỡ nhà trên đất và hai bên đã bàn giao đất chuyển đổi cho nhau. Do việc đổi đất không được sự đồng ý của cơ quan quản lý đất đai tại địa phương nên đến năm 2000, ông Lâm, ông Giàu đã trả lại đất cho  nhau.
Ông Giàu chết năm 2002. Sau khi ông Giàu chết, bà Mia yêu cầu ông Lâm tiếp tục thực hiện việc đổi đất, nếu hủy hợp đồng thì ông Lâm phải trả lại số vàng chênh lệch giá trị đất đã giao (94 chỉ) theo giá đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Ông Lâm chỉ đồng ý trả lại cho bà Mia 94 chỉ vàng 24k.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/DSST ngày 9/01/2004, TAND tỉnh Đồng Tháp đã hủy hợp đồng chuyển đổi đất giữa ông Giàu và ông Lâm, buộc ông Lâm trả cho bà Mia 94 chỉ vàng gốc và lãi là 26 chỉ 3 phân 2 ly vàng 24k. Bản án sơ thẩm bị kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số 96/DSPT ngày 6/4/2004, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại TP. Hồ Chí Minh đã quyết định hủy hợp đồng chuyển đổi đất do ông Giàu và ông Lâm ký năm 1996 đồng thời buộc ông Lâm trả cho bà Mia 728 chỉ vàng 24k. Ông Lâm có khiếu nại. Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị tái thẩm.
Tại phiên họp ngày 19/3/2014, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, giao cho TAND tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm lại. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng là:
Tại thời điểm đổi đất (năm 1996), ông Giàu và ông Lâm đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hợp đồng đổi đất là vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định “hủy hợp đồng” là không chính xác, lẽ ra phải tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Khi giải quyết hậu quả của tuyên bố hợp đồng vô hiệu thì giá đất là yếu tố quan trọng phải xác định để làm cơ sở tính hoàn trả các khoản tiền đã giao, thiệt hại phát sinh do tuyên bố vô hiệu ( theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).
Diện tích đất của ông Lâm đã có quy hoạch thu hồi để xây dựng công trình công cộng (trạm biến áp 110 KV) từ năm 2003. Khi định giá để xét xử sơ thẩm, hội đồng định giá vẫn định giá đất bình thường như những diện tích đất không có quy hoạch thu hồi. Gia đình bà Mia cũng không biết về việc này. Do đó, giá đất mà Tòa án xác định làm căn cứ xét xử chênh lệch rất lớn so với giá đất thực tế. Như vậy, tình tiết đất đã có quy hoạch thu hồi là tình tiết quan trọng có thể làm thay đổi cơ bản nội dung bản án.
Có ý kiến cho rằng tình tiết đất đã có quy hoạch thu hồi không phải là tình tiết mới nên không phải là căn cứ tái thẩm (ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại phiên họp tái thẩm).
Theo quy định tại Điều 304 Bộ luật tố tụng dân sự thì tính chất của tái thẩm là trình tự xét xử đặc biệt do “có những tình tiết mới được phát hiện” chứ không phải là “tình tiết mới”. Do đó, những tình tiết, sự kiện đã xảy ra từ trước khi xét xử nay mới phát hiện thì cũng là tình tiết thuộc căn cứ tái thẩm.
Việc kháng nghị tái thẩm phải căn cứ vào quy định cụ thể của Bộ luật tố tụng dân sự về căn cứ để  kháng nghị theo thủ tục tái thẩm (Điều 305). Một trong những căn cứ kháng nghị tái thẩm là “Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án” (Khoản 1 Điều 305 Bộ luật TTDS).
Vấn đề đặt ra là tất cả các đương sự đều không biết về “tình tiết quan trọng” ấy hoặc có thể có một hoặc một số đương sự vẫn biết về tình tiết ấy khi Tòa án  xét xử sơ thẩm, phúc thẩm.
Thực tế, những “tình tiết quan trọng” mà các đương sự đều không biết là rất hiếm. Hội đồng thẩm phán đã xác định những tình tiết quan trọng mà một bên đương sự không biết và Tòa án cũng không biết khi xét xử là tình tiết thuộc căn cứ tái thẩm quy định tại Khoản 1 Điều 305 Bộ luật TTDS.                                                                               
Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
1. Đất tranh chấp đã bị quy hoạch xây dựng công trình công cộng là tình tiết có ảnh hưởng quan trọng đến việc giải quyết tranh chấp.
2. Quy định “mà đương sự đã không thể biết” không đòi hỏi phải là tất cả các đương sự không thể biết. Chỉ cần một trong các đương sự không biết và Tòa án không biết là thuộc căn cứ kháng nghị tái thẩm quy định tại Khoản 1 Điều 305 Bộ luật TTDS.


Vụ án 6: Đòi tiền giữa ông Jose và bà Hằng


Vụ án 06:
Cho và mượn khác nhau thế nào? Không rõ là “cho” thì có thể xác định là “mượn” hay không?

Ông Jose Ignacio Sanchez Andres, quốc tịch Tây Ban Nha quen biết bà Nguyễn Thu Hằng qua mạng internet từ tháng 4/2006. Đến tháng 7/2006 ông Jose mời bà Hằng sang Tây Ban Nha du lịch. Sau khi bà Hằng về Việt Nam, ông Jose đã 02 lần gửi tiền cho bà Hằng với tổng số tiền là 40.197,88 USD.
Tại đơn khởi kiện ngày 06/01/2010 (Ông Jose ủy quyền cho ông Nguyễn Phú Thịnh tham gia tố tụng), ông Jose yêu cầu buộc bà Hằng trả lại số tiền nêu trên vì là tiền bà Hằng mượn để kinh doanh và hứa trả sau một năm.
Bà Hằng thừa nhận đã nhận tiền đúng như lời khai của ông Jose nhưng cho rằng ông Jose tự nguyện cho bà vì hai bên có tình cảm với nhau và dự định đi đến kết hôn; bà đã chi tiêu cá nhân và kinh doanh chứng khoán thua lỗ nên không còn và cũng không có nghĩa vụ phải trả.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 779/2010/DSST ngày 01/6/2010, TAND thành phố Hồ Chí Minh buộc bà Hằng phải có trách nhiệm trả cho ông Jose toàn bộ số tiền mà bà đã nhận vì cho rằng bà Hằng không chứng minh được số tiền đã nhận của ông Jose là ông Jose cho, nên có căn cứ xác định số tiền mà ông Jose gửi cho bà Hằng là tiền cho mượn và ông Jose yêu cầu bà Hằng trả là có cơ sở.
Bản án sơ thẩm bị kháng cáo. Tại bản án phúc thẩm số 274/2010/DSPT ngày 06/12/2010, Tòa phúc Thẩm TAND tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh quyết định không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Bản án phúc thẩm đã bị Chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm.
Tại phiên họp ngày 17/3/2014, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao đã quyết định hủy bản án phúc thẩm, bản án sơ thẩm; giao xét xử sơ thẩm lại. Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán có một số vấn đề pháp lý quan trọng sau:
Quyết định giám đốc thẩm giao xét xử sơ thẩm lại theo hướng nếu không có chứng cứ gì mới thì phải bác yêu cầu đòi tiền của nguyên đơn (ông Jose).
Ông Jose là người nước ngoài, cư trú tại nước ngoài (Tây Ban Nha) nhưng bị đơn ở Việt Nam, giao dịch nhận tiền xảy ra ở Việt Nam, Việt Nam và Tây Ban Nha cũng chưa có quy định riêng nên việc áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp là pháp luật Việt Nam.
Ông Jose và bà Hằng đều thống nhất số tiền đã giao nhận, nhưng ông Jose cho rằng bà Hằng mượn số tiền trên nên phải trả; còn bà Hằng thì cho rằng ông Jose cho bà là để giúp đỡ nên bà không phải trả.
Theo quy định tại Điều 512 Bộ luật Dân sự (BLDS) thì: “Hợp đồng mượn tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được.”.
Theo quy định tại điều 465 BLDS thì: “ Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận”.
Theo quy định tại Điều 163 BLDS thì: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Như vậy, số tiền  40.197,88 USD tranh chấp nêu trên cũng có thể là đối tượng của hợp đồng mượn tài sản hoặc hợp đồng tặng cho tài sản.
So sánh các dấu hiệu pháp lý đặc trung của hợp đồng mượn tài sản với hợp đồng tặng cho tài sản thì khác biệt căn bản là người mươn tài sản có nghĩa vụ trả lại tài sản còn người được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại tài sản.
Để xác định là loại hợp đồng nào nếu hợp đồng đã không được đặt tên thì phải xác định được những quyền, nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận xác lập. Đồng thời xác định những quyền hoặc nghĩa vụ ấy có thuộc những quyền hay nghĩa vụ đặc trưng của một loại hợp đồng nào không.
Cá tài liệu mà ông Jose và bà Hằng xuất trình đều là các thư điện tử (email). Trong các thư bà Hằng gửi (ông Jose xuất trình) không có nội dung nào xác định việc bà Hằng nhận tiền là “mượn” tiền, cũng không có nội dung nào thể hiện bà Hằng xác định bà có nghĩa vụ trả tiền hay lẽ ra phải trả nhưng do khó khăn mà chưa trả được. Như vậy, ông Jose chưa có đủ chứng cứ để chứng minh đã cho bà Hằng mượn tiền. Trong các thư ông Jose gửi (bà Hằng xuất trình) cũng không có nội dung nào thể hiện dứt khoát ý chí của ông Jose tặng cho bà Hằng số tiền đã gửi. Như vậy, bà Hằng cũng chưa có đủ chứng cứ chứng minh việc bà nhận tiền là từ hợp đồng tặng cho.
Trong vụ án này, việc đánh giá chứng cứ của các cấp Tòa án là giống nhau nhưng xác định hậu quả pháp lý khác nhau. Cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm cho rằng không phải là cho thì là mượn và phải trả lại, cấp giám đốc thẩm xác định chưa đủ căn cứ là cho nhưng cũng chưa đủ căn cứ là mượn thì phải bác yêu cầu khởi kiện.
Quyết định của Hội đồng Thẩm phán trên cơ sở nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh đã quy định tại Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) là “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”. Ông Jose đưa ra yêu cầu đòi lại tiền cho mươn thì có nghĩa vụ chứng minh đúng là việc mượn tiền; không chứng minh được rõ ràng thì không thể chấp nhận yêu cầu. Bà Hằng nêu ra sự kiện là tiền tặng cho thì bà Hằng có quyền chứng minh, nếu đúng là tặng cho thì càng có cơ sở để bác yêu cầu đòi tiền của ông Jose nhưng nếu bà Hằng chưa chứng minh được thì cũng không cản trớ việc bác yêu cầu của nguyên đơn.
Cũng có ý kiến nêu rằng Tòa án phải xác định thực chất hợp đồng là hợp đồng gì. Theo nguyên tắc giải quyết dân sự thì Tòa án chỉ giải quyết những yêu cầu đương sự đặt ra, chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của họ. Không phải cứ không “cho” thì là “mượn”. Thực tế còn có thể là thỏa thuận đầu tư không hợp pháp , và nếu vậy thì cũng không thể có việc trả lại tiền như là mượn tiền.
Vấn đề pháp lý có thể rút ra là:
Các thư điện tử có thể là nguồn chứng cứ nếu không có dấu hiệu nghi ngờ giả mạo hoặc bị sửa chữa.
Để xác định hợp đồng là hợp đồng gì phải xác định theo các dấu hiệu đặc trưng của loại hợp đồng theo quy định của pháp luật (khái niệm về một loại hợp đồng cụ thể theo pháp luật).
Không phải cứ không là cho thì là mượn. Không phải cứ không chứng minh được là cho thì phải trả lại tiền đã nhận. Người đòi tiền không chứng minh được nghĩa vụ phải trả lại tiền của bị đơn thì sẽ bị bác yêu cầu mặc dù bị đơn cũng không chứng minh được là họ được cho.



HE THONG MARKETING ONLINE THONG MINH 2.0



                     


  HE THONG MARKETING ONLINE THONG MINH 2.0

Chiến lượt Marketing online

                                                       
  Chiến lượt Marketing online