Công ty Luật Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 334 Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Điện thoại: 0911666884- 0924.488.884.

Công ty Đấu giá Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 07 Khúc Hạo, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng

Kim Trọng Hùng Group Kính chào Các bạn

Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng. Website:luatkimtronghung.com.

Luật sư Vũ Trọng Kim-CT Hội cựu TNXP

Ủy viên trung ương ĐCS khóa VIII, IX, X, XI. Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XIII, XIV.

Luật sư Nguyễn Cao Hùng-Giảng viên thỉnh giảng Luật Đầu tư

Tác giả sách: 200 câu hỏi đáp về Khiếu nại, tố cáo. Đồng tác giả sách: Bình luận KH BLTTHS 2015-XNB CAND

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2016

Thương mại điện tử trong TPP (chương 14)


Ngày 04/2/2016 Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)



Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP. (Nguồn: EPA)


Hôm nay, ngày 4/2/2016, Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) gồm Ốt-xtrây-lia, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po, Hoa Kỳ và Việt Nam đã tham dự Lễ ký kết để xác thực lời văn Hiệp định TPP tại Auckland, Niu Di-lân.

Được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng đã thay mặt Chính phủ Việt Nam ký xác thực lời văn Hiệp định TPP và 35 thỏa thuận song phương trong các lĩnh vực liên quan đến dịch vụ tài chính, dệt may, nông nghiệp, sở hữu trí tuệ… mà Việt Nam đã thống nhất với một số nước TPP.

Các thỏa thuận song phương này sẽ có hiệu lực cùng thời điểm với Hiệp định TPP.

Xem toàn văn Hiệp định TPP bằng tiếng Việt tại địa chỉ: http://tpp.moit.gov.vn/

Hiệp định bao gồm 30 chương, đề cập không chỉ các lĩnh vực truyền thống như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà còn cả các vấn đề mới như thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng, doanh nghiệp nhà nước v.v...

Bộ Công Thương đã công bố toàn văn Hiệp định TPP bằng 3 thứ tiếng gồm tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha đã được các nước ký xác thực lời văn và có giá trị pháp lý như nhau cùng các thư trao đổi song phương giữa Việt Nam với một số nước TPP.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cho hay, nhằm mục đích đáp ứng kịp thời và đầy đủ hơn nhu cầu thông tin của các cơ quan hoạch định chính sách, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, Bộ Công Thương cũng công bố bản dịch tiếng Việt do các Bộ, ngành có liên quan thực hiện.






CHƯƠNG 14 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 



Điều 14.1. Định nghĩa: 

Trong phạm vi của Chương này: Hệ thống máy chủ là các máy chủ và các thiết bị lưu trữ dùng để xử lý và lưu trữ thông tin phục vụ cho mục đích thương mại; Pháp nhân được bảo hộ 1 là: (a) một hoạt động đầu tư được bảo hộ như định nghĩa tại Chương II (Đầu tư) (b) một nhà đầu tư của một Bên như định nghĩa tại Chương II (Đầu tư), nhưng không bao gồm nhà đầu tư trong một tổ chức tài chính; hoặc (c) Nhà cung cấp dịch vụ của một Bên như định nghĩa tại Chương JJ (Thương mại dịch vụ qua biên giới), nhưng không bao gồm một tổ chức tài chính hoặc một nhà cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới của một Bên như định nghĩa tại Chương KK (Dịch vụ tài chính) Sản phẩm số là một chương trình máy tính, văn bản, video, hình ảnh, ghi âm hoặc sản phẩm khác được mã hóa bằng kỹ thuật số, sản xuất vì mục tiêu kinh doanh hay phân phối thương mại, và có thể được truyền đưa bằng điện tử; 2 3 Chứng thực điện tử là quy trình hoặc hành động xác minh danh tính của một bên đối với một giao tiếp hoặc giao dịch điện tử và đảm bảo tính toàn vẹn của một giao tiếp điện tử; Truyền đưa điện tử hoặc truyền được bằng điện tử là một hoạt động truyền tin được thực hiện bằng các phương tiện điện từ trường, kể cả bằng các phương tiện quang tử; Thông tin cá nhân là bất kỳ thông tin, bao gồm cả dữ liệu, về một thể nhân/tự nhiên nhân đã được xác định hoặc có thể xác định; Văn bản quản lý về thương mại là các mẫu được ban hành hoặc kiểm soát bởi một Bên cần phải được hoàn thiện bởi hoặc cho một nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu có liên quan đến việc xuất hay nhập khẩu hàng hóa; và Tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn là một tin nhắn điện tử được gửi vì mục đích thương mại hoặc marketing đến một địa chỉ điện tử thông qua một nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet hoặc dịch vụ viễn thông khác trong phạm vi quy định của luật và các quy định của mỗi Bên, mà không có sự đồng ý của người nhận hoặc bất chấp việc từ chối rõ ràng của người nhận. 



Điều 14. 2: Phạm vi và Các quy định chung: 

1. Các Bên ghi nhận các giá trị tăng trưởng kinh tế cũng như cơ hội mà Thương mại điện tử mang lại, cũng như tầm quan trọng của việc hình thành các khuôn khổ nhằm tăng cường lòng tin của người tiêu dùng vào thương mại điện tử và tránh những hàng rào cản trở không cần thiết đối với việc ứng dụng và sự phát triển của thương mại điện tử. 2. Chương này sẽ áp dụng đối với các biện pháp mà một Bên thông qua hoặc duy trì có tác động đối với hoạt động thương mại bằng các phương tiện điện tử. 3. Chương này sẽ không áp dụng đối với: (a) mua sắm chính phủ (b) các thông tin được nắm giữ hoặc xử lý bởi một Bên hoặc do Bên đó ủy quyền, hoặc các biện pháp liên quan đến các thông tin đó, bao gồm các biện pháp về việc thu thập thông tin. 4. Để rõ ràng hơn, các biện pháp có tác động đến việc cung cấp dịch vụ được thực hiện bằng phương thức điện tử sẽ còn tùy thuộc vào các nghĩa vụ có trong các điều khoản liên quan của Chương II (Đầu tư),/ Chương JJ (Thương mại dịch vụ qua 1 Đối với Australia, pháp nhân được bảo hộ không bao gồm tổ chức báo cáo tín dụng. 2 Để rõ ràng hơn, sản phẩm số không bao gồm dạng thức số hóa của công cụ tài chính, gồm cả tiền 3 Định nghĩa của sản phẩm số không nên được hiểu là sự phản ánh quan điểm của một Bên đối với vấn đề hoạt động kinh doanh các sản phẩm số thông qua truyền dẫn điện tử nên được phân loại là thương mại dịch vụ hay thương mại hàng hóa. biên giới) và chương KK (Dịch vụ tài chính), bao gồm cả các ngoại trừ hoặc các biện pháp không thương thích quy định trong Hiệp định này được áp dụng cho các nghĩa vụ đó. 5. Để rõ ràng hơn, các nghĩa vụ nêu trong các Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số), Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử), Điều 14.13 (Đặt hệ thống máy chủ) và Điều 14.17 (Mã nguồn) sẽ: (a) Tùy thuộc vào các điều khoản liên quan, các ngoại lệ và các biện pháp không tương thích của Chương II (Đầu tư), Chương JJ (Thương mại dịch vụ qua biên giới) và Chương KK (Dịch vụ Tài chính) và (b) Được hiểu đồng thời với các điều khoản liên quan khác trong Hiệp định này. 6. Các nghĩa vụ nêu trong các Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số), Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử), Điều 14.13 (Đặt hệ thống máy chủ) sẽ không áp dụng đối với các biện pháp có yếu tố không tương thích được áp dụng và duy trì theo như các Điều II.11 (Các biện pháp không tương thích của Chương Đầu tư), Điều JJ.7 (Các biện pháp không tương thích của Chương Thương mại dịch vụ qua biên giới) hoặc Điều KK.10 (Các biện pháp không tương thích của Chương Dịch vụ tài chính). 



Điều 14.3: Thuế hải quan: 

1. Không Bên nào được áp các loại thuế hải quan đối với các giao dịch điện tử, bao gồm cả nội dung được truyền đưa bằng phương thức điện tử, giữa một pháp nhân của một Bên với một pháp nhân của một Bên khác. 2. Để rõ ràng hơn, khoản 1 sẽ không ngăn cản một Bên áp các thuế nội địa, lệ phí hoặc các khoản thu khác đối với nội dung được truyền đưa bằng phương thức điện tử, miễn là các loại thuế, lệ phí hoặc khoản thu đó được quy định một cách phù hợp với Hiệp định này. 



Điều 14.4: Không phân biệt đối xử các sản phẩm số: 

1. Không Bên nào được đối xử kém thuận lợi hơn đối với sản phẩm số được tạo ra, sản xuất, xuất bản, ký hợp đồng, đặt hàng hoặc xuất hiện trên cở sở các nguyên tắc thương mại tại lãnh thổ của một Bên khác, hoặc đối với sản phẩm số mà tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất, nhà phát triển hoặc chủ sở hữu là pháp nhân của một Bên khác, so với các sản phẩm số tương tự khác. 4 2. Khoản 1 sẽ áp dụng trong trường hợp có mâu thuẫn với các quyền và nghĩa vụ trong Chương QQ. 3. Các Bên hiểu rằng Điều này sẽ không áp dụng cho các khoản trợ cấp hay tài trợ bởi một Bên bao gồm cả những khoản vay, bảo lãnh và bảo hiểm do Chính phủ hỗ trợ. 4. Điều này sẽ không áp dụng đối với phát thanh truyền hình. 



Điều 14.5: Khung quy định trong nước về giao dịch điện tử 

1. Các Bên sẽ phải duy trì một khung pháp lý điều chỉnh các giao dịch điện tử phù hợp với các nguyên tắc của Luật mẫu UNCITRAL về Thương mại điện tử 1996 hoặc Công ước Liên hợp quốc về sử dụng các liên lạc điện tử trong các hợp đồng quốc tế đã được thông qua tại New York vào 23/11/2005. 2. Mỗi Bên sẽ phải nỗ lực: (a) tránh tạo ra bất kỳ gánh nặng về quy định không cần thiết đối với các giao dịch điện tử; và (b) tạo thuận lợi cho việc góp ý kiến của các pháp nhân có liên quan đối với việc xây dựng khung pháp lý về giao dịch điện tử. 



Điều 14.6: Chứng thực điện tử và chữ ký điện tử 

1. Ngoại trừ những trường hợp có quy định khác trong luật, một Bên sẽ không được phủ nhận giá trị pháp lý của một chữ ký chỉ ví lý do chữ ký đó là ở dạng điện tử. 4 Để rõ ràng hơn, nếu như một sản phẩm số của một Bên không phải thành viên Hiệp định là một “sản phẩm số tương tự”, thì nó sẽ được coi là “sản phẩm số tương tự khác” như theo khoản 14.4.1 đã nêu. 2. Không bên nào được áp dụng hoặc duy trì các biện pháp đối với chứng thực điện tử mà sẽ: (a) ngăn cấm các Bên tham gia vào một giao dịch điện tử được cùng nhau quyết định các phương pháp chứng thực phù hợp với giao dịch đó; hoặc (b) ngăn cấm các Bên tham gia vào một giao dịch điện tử có cơ hội được chứng minh trước các cơ quan hành chính hoặc tư pháp rằng giao dịch của họ tuân thủ mọi yêu cầu pháp lý về chứng thực. 3. Không phụ thuộc vào các quy định tại khoản 2, một Bên có thể quy định đối với một hạng mục giao dịch cụ thể, phương pháp chứng thực phải đáp ứng những tiêu chuẩn về hiệu suất nhất định hoặc phải được công nhận bởi một cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật. 4. Các Bên sẽ khuyến khích việc sử dụng chứng thực điện tử tương thích. 



Điều 14.7: Bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến 

1. Các Bên thừa nhận tầm quan trọng của việc áp dụng và duy trì các biện pháp minh bạch và hiệu quả để bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi gian lận và lừa đảo thương mại như được đề cập ở Điều PP.7.2 (Bảo vệ người tiêu dùng) khi họ tham gia vào thương mại điện tử. 2. Mỗi Bên sẽ áp dụng hoặc duy trì các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng để ngăn cấm các hành vi gian lận và lừa đảo thương mại gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại cho người tiêu dùng tham gia vào các hoạt động thương mại trực tuyến. 3. Các Bên thừa nhận tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng quốc gia hoặc các cơ quan liên quan khác đối với các hoạt động thương mại điện tử qua biên giới nhằm nâng cao lợi ích cho người tiêu dùng. Để thực hiện điều này, các Bên khẳng định nội dung hợp tác trong Điều PP.7.5 và Điều PP.7.6 (Bảo vệ người tiêu dùng) bao gồm cả hợp tác đối với các hoạt động thương mại trực tuyến. 



Điều 14.8: Bảo vệ thông tin cá nhân5 

1. Các Bên thừa nhận các lợi ích về kinh tế và xã hội của việc bảo vệ thông tin cá nhân của người dùng thương mại điện tử và đóng góp của điều này vào việc nâng cao sự tín nhiệm của người tiều dùng đối với thương mại điện tử. 2. Để thực hiện điều này, các Bên sẽ áp dụng hoặc duy trì khung pháp lý quy định việc bảo vệ thông tin cá nhân của người dùng thương mại điện tử. Trong quá trình xây dựng khung pháp lý về bảo vệ thông tin cá nhân, mỗi Bên nên tham khảo các nguyên tắc và hướng dẫn của các tổ chức quốc tế liên quan6 . 3. Mỗi Bên sẽ nỗ lực, trong phạm vi thẩm quyền của mình, sẽ áp dụng các thông lệ về không phân biệt đối xử đối với việc bảo vệ người dùng thương mại điện tử khỏi các hành vi xâm phạm thông tin cá nhân. 4. Mỗi Bên nên công bố các thông tin về các biện pháp bảo vệ thông tin tin cá nhân đối với người dùng thương mại điện tử, bao gồm các cách thức để: (a) các cá nhân có thể tìm các biện pháp khắc phục; và (b) các doanh nghiệp có thể tuân thủ các yêu cầu pháp lý; 5. Trên cơ sở thừa nhận rằng các Bên có thể đưa ra các biện pháp pháp lý khác nhau để bảo vệ thông tin các nhân, mỗi Bên sẽ khuyến khích việc xây dựng các cơ chế để thúc đẩy và tăng cường khả năng tương thích giữa các biện pháp đó. Các cơ chế này có thể bao gồm việc công nhận các kết quả đầu ra của quản lý, có thể là theo hình thức độc lập hoặc thông quả thỏa thuận lẫn nhau, hoặc qua các khuôn khổ quốc tế rộng hơn. Để thực hiện điều này, các Bên sẽ nỗ lực trong phạm vi thẩm quyền của mình để trao đổi thông tin về các cơ chế như vậy và tìm cách mở rộng các cơ chế đó hoặc các hình thức thỏa thuận thích hợp khác để tăng cường khả năng tương thích giữa các cơ chế đó. 5 Brunei và Việt Nam không bắt buộc phải áp dụng Điều này trước ngày mà các nước này bắt đầu thực thi khung pháp lý quy định việc bảo vệ dữ liệu cá nhân của người dùng thương mại điện tử 6 Để rõ ràng hơn, một Bên có thể tuân thủ theo nghĩa vụ của khoản này bằng cách áp dụng hoặc duy trì các biện pháp ví dụ như bảo mật toàn diện, các luật về bảo vệ thông tin hoặc dữ liệu cá nhân, các luật chuyên ngành về bảo mật, hoặc các luật quy định việc thực thi các cam kết tự nguyện của doanh nghiệp liên quan đến bảo mật. 



Điều 14.9: Thương mại không qua giấy tờ 

Mỗi Bên sẽ nỗ lực để: (a) công bố rộng tãi các văn bản quản lý về thương mại ở dạng điện tử; và (b) chấp nhận các văn bản quản lý về thương mại được nộp bằng phương thức điện tử với giá trị pháp lý tương đương với các văn bản bằng giấy. 



Điều 14.10: Các nguyên tắc về truy cập và sử dụng Internet cho Thương mại điện tử 

Tùy thuộc vào các chính sách, luật pháp và quy định được áp dụng, các Bên ghi nhận lợi ích của người tiêu dùng từ việc có các quyền như sau trên lãnh thổ của mình: (a) truy cập và sử dụng các dịch vụ và ứng dụng trên Internet theo chọn lựa của người tiêu dùng, trên cơ sở việc mạng lưới được quản trị một cách hợp lý7 ; (b) kết nối các thiết bị của người dùng cuối với Internet theo chọn lựa của người tiêu dùng, miễn là các thiết bị đó không gây tổn hại cho mạng lưới; và (b) truy cập các thông tin về các biện pháp quản trị mạng lưới từ nhà cung cấp kết nối Internet của người tiêu dùng. 



Điều 14.11: Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử 

1. Các Bên thừa nhận rằng mỗi Bên có thể có nhưng yêu cầu quản lý riêng đối với việc lưu chuyển thông tin bằng các phương tiện điện tử. 2. Mỗi Bên sẽ cho phép việc lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng các phương tiện điện tử, bao gồm cả thông tin cá nhân, nếu việc lưu chuyển này phục vụ cho hoạt động kinh doanh của một pháp nhân được bảo hộ; 3. Không có gì trong Điều này ngăn cản một Bên áp dụng hoặc duy trì các biện pháp không phù hợp với khoản 2 để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng, miễn là biện pháp đó: (a) không được áp dụng để nhằm mục đích tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện hoặc vô lý, hoặc cản trở thương mại một cách trá hình. (b) không áp đặt các hạn chế hơn mức cần thiết đối với các hoạt động lưu chuyển thông tin để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng. 



Điều 14.12: Chia sẻ cước kết nối Internet 

Các Bên ghi nhận rằng một nhà cung cấp có nhu cầu kết nối Internet quốc tế nên được phép đàm phán với các nhà cung cấp của một Bên khác trên cơ sở thương mại. Các hoạt động đàm phán này có thể bao gồm đàm phán về bồi thường cho việc thiếp lập kết nối, vận hành và bảo trì các thiết bị của các nhà cung cấp. 



Điều 14.13: Đặt hệ thống máy chủ 

1. Các Bên thừa nhận rằng mỗi Bên có thể có nhưng yêu cầu quản lý riêng đối với việc sử dụng các thiết bị máy tính, bao gồm cả các yêu cầu để đảm bảo an ninh và bảo mật thông tin liên lạc. Không bên nào được yêu cầu một pháp nhân được bảo hộ phải sử dụng hoặc đặt hệ thống máy chủ trên lãnh thổ của Bên đó như là một điều kiện để tiến hành hoạt động kinh doanh tại lãnh thổ đó. 2. Không có gì trong Điều này ngăn cản một Bên áp dụng hoặc duy trì các biện pháp không phù hợp với khoản 1 để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng, miễn là biện pháp đó: a) không được áp dụng để nhằm mục đích tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện hoặc vô lý, hoặc cản trở thương mại một cách trá hình. 7 Các Bên thừa nhận rằng nếu một nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet cung cấp đến các thuê bao của mình một số nội dung nhất định trên cơ sở độc quyền thì sẽ được coi là không làm trái với nguyên tắc này. (b) không áp đặt các hạn chế hơn mức cần thiết đối với việc sử dụng và đặt hệ thống máy chủ để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng. 



Điều 14.14: Tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn 

8 1. Mỗi Bên sẽ áp dụng hoặc duy trì các biện pháp liên quan đến tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn mà: (a) yêu cầu các nhà cung cấp các tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn phải tạo điều kiện cho người nhận có khả năng ngăn việc tiếp tục phải nhận những tin nhắn đó. (b) yêu cầu phải có sự chấp thuận của người nhận, được quy định cụ thể trong luật pháp và các quy định của mỗi Bên, để nhận các tin nhắn điện tử thương mại; hoặc (c) nếu không thì phải quy định việc giảm thiểu tối đa các tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn. 2. Các Bên sẽ quy định việc đòi bồi thường đối với các nhà cung cấp tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn không tuân thủ theo các biện pháp được áp dụng hoặc duy trì như ở khoản 1. 3. Các Bên sẽ nỗ lực hợp tác trong các vụ việc thích hợp có liên quan đến quy định về tinh nhắn điện tử thương mại không mong muốn mà cả 2 Bên đều có chung mối quan tâm. 



Điều 14.15: Hợp tác Ghi nhận tính chất toàn cầu của thương mại điện tử, 

các Bên sẽ nỗ lực để: (a) cùng nhau hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua các trở ngại trong việc ứng dụng thương mại điện tử; (b) trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệp về quy định, chính sách, việc thực thi và tuân thủ liên quan đến thương mại điện tử, bao gồm: (i) bảo vệ thông tin cá nhân; (ii) bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến bao gồm cả những biện pháp khôi phục và nâng cao sự tín nhiệm của người tiêu dùng; (iii) tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn (iv) vấn đề an ninh trong các liên lạc điện tử; (v) chứng thực; và (vi) chính phủ điện tử (c) trao đổi thông tin và chia sẻ quan điểm về việc tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ trực tuyến của người tiêu dùng giữa các Bên; (d) tích cực tham gia vào các diễn đàn khu vực và đa phương để thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử; và (e) khuyến khích khối tư nhân phát triển các biện pháp về quy định nội bộ nhằm thúc đẩy thương mại điện tử, bao gồm các quy tắc ứng xử, hợp đồng mẫu, hướng dẫn và cơ chế thực thi. 



Điều 14.16: Hợp tác trong các vấn đề an ninh mạng: 

Các Bên ghi nhận tầm quan trọng của việc: (a) nâng cao năng lực của các cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm về đối phó với sự cố an toàn máy tính; và (b) thông qua các cơ chế hợp tác hiện có để phối hợp xác định và giảm thiểu các hành vi xâm nhập nguy hiểm hoặc phổ biến mã độc hại gây ảnh hưởng đến mạng lưới điện tử của các Bên. 8 Brunei Darussalam không bắt buộc phải áp dụng Điều này trước ngày nước này bắt đầu thực thi khung pháp lý về tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn. 



Điều 14.17. Mã nguồn: 

1. Không Bên nào được yều cầu việc chuyển giao hoặc truy cập đến mã nguồn của phần mềm được sở hữu bởi một pháp nhân của một Bên khác như là một điều kiện để phần mềm hoặc các sản phẩm sử dụng phần mềm đó được nhập khẩu, phân phối, bán hoặc sử dụng trong lãnh thổ của Bên đó. 2. Trong phạm vi của Điều này, phần mềm được nói đến khoản 1 sẽ chỉ giới hạn trong các phần mềm hoặc các sản phẩm dùng các phần mềm đó trên thị trường đại chúng, và không bao gồm các phần mềm được sử dụng cho hạ tầng trọng yếu. 3. Không có gì trong Điều này sẽ ngăn cản: (a) việc cam kết hoặc thực thi các điều khoản và điều kiện liên quan đến việc cung cấp mã nguồn trong các hợp đồng được đàm phán trên cơ sở thương mại; hoặc (b) một Bên yêu cầu sửa đổi mã nguồn của phần mềm cần thiết để phần mềm đó tuân thủ với các luật và quy định không phù hợp với Hiệp định này. 4. Điều này sẽ không được hiểu là có tác động đến các yêu cầu liên quan đến các đăng ký sáng chế hoặc các bằng sáng chế đã được cấp, bao gồm cả các lệnh do cơ quan tư pháp ban hành liên quan đến tranh chấp sáng chế, trên cơ sở phụ thuộc vào quy định pháp luật và thông lệ của một Bên về các biện pháp chống lại hành vi tiết lộ trái phép. Điều 14.18: Giải quyết tranh chấp 1. Đối với các biện pháp hiện hành, Malaysia sẽ không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo như Chương BBB (Giải quyết tranh chấp) đối với các nghĩa vụ của Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số) và Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử) trong khoảng thời gian 3 năm kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực đối với Malaysia. 2. Đối với các biện pháp hiện hành, Việt Nam sẽ không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo như Chương BBB (Giải quyết tranh chấp) đối với các nghĩa vụ của Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số), Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử) và Điề


Áp dụng pháp luật nuớc ngoài tại Việt Nam


Áp dụng pháp luật nuớc ngoài tại  Việt Nam





Để điều chỉnh và giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, một trong các cách phổ biến là quốc gia xây dựng các quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật của mình và trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Việc áp dụng các quy phạm xung đột cũng đồng nghĩa với việc quốc gia đó thừa nhận và cho phép áp dụng luật nước ngoài và tất nhiên đây là một đòi hỏi thực tế khách quan đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mở rộng quan hệ đa phương, đa diện của quốc gia với nước ngoài. Thực tiễn tư pháp quốc tế đã chứng tỏ rằng, ở những mức độ và với những điều kiện khác nhau, tất cả các nước đều thừa nhận và cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài, việc áp dụng pháp luật nước ngoài là không tránh khỏi, là đặc thù của tư pháp quốc tế. Ví dụ: Hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Pháp. Sau hai mươi năm chung sống tại Pháp, họ quyết định đưa cả gia đình trở về Việt Nam sinh sống, được một năm sau thì họ nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án địa phương có thẩm quyền nơi cư trú tại Việt Nam. Để giải quyết được việc này, chỉ khi Tòa án có thẩm quyền đó công nhận việc kết hôn của hai công dân Việt Nam ở Pháp trước đây là hợp pháp và tài sản của họ ở Pháp là hợp pháp.

Như vậy, để đảm bảo quyền lợi của cặp vợ chồng trên cũng như lợi ích của con cái họ, Tòa án Việt Nam không thể giải quyết nếu không tính tới việc trong chừng mực nào đó cần thiết phải áp dụng pháp luật của Pháp. Khi áp dụng pháp luật nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ các điều kiện, cơ sở và thể thức pháp lý nhất định. Mỗi quốc gia các điều kiện, cơ sở và thể thức pháp lý về áp dụng luật nước ngoài là khác nhau. Tuy nhiên, phạm vi cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài phải được xác định trên cơ sở chủ quyền quốc gia và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia; đồng thời bảo đảm hiệu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội và pháp luật của nước mình.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về áp dụng pháp luật nước ngoài

Vấn đề lựa chọn pháp luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Chẳng hạn, tại Điều 122 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, có quy định về việc Áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, như sau:

1. Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

2. Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 2 của Luật này.

Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

3. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng.”

Tại Điều 4[1] Luật hàng không dân dụng năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Điều 5[2] Luật Thương mại năm 2005; khoản 3[3] Điều 759 Bộ luật Dân sự năm 2005 đều quy định về vấn đề áp dụng pháp luật dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế. Theo các văn bản vừa nêu, pháp luật nước ngoài được áp dụng tại Việt Nam dựa trên các cơ sở sau:

Một là, có quy phạm xung đột trong Điều ước quốc tế quy định;

Hai là, quy phạm xung đột trong văn bản pháp luật quốc gia quy định;

Ba là, có sự thỏa thuận lựa chọn của các bên đương sự.

Như vậy, pháp luật nước ngoài không chỉ được áp dụng khi có sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột ghi nhận trong các điều ước quốc tế mà còn được áp dụng khi có sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng về việc áp dụng pháp luật nước ngoài.

Vấn đề quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên chủ thể được bắt nguồn từ nguyên tắc tự do về mặt ý chí, cụ thể hơn, đó là tự do giao kết hợp đồng và tự do xác định nội dung hợp đồng – Đây là “nguyên tắc vàng” của luật hợp đồng. Trong quan hệ hợp đồng, tự do ý chí là vấn đề trọng yếu của hợp đồng và về nguyên tắc, ý chí của các bên tham gia giao kết hợp đồng mang tính quyết định. Từ những nền tảng quan trọng đó, các bên chủ thể tham gia hợp đồng không những được tự do thỏa thuận xác lập, thực hiện hợp đồng trong khuôn khổ quy định của pháp luật mà còn được tự do thỏa thuận lựa chọn pháp luật của một quốc gia nào đó để áp dụng cho hợp đồng. Ngoài ra, việc quy định các bên chủ thể tham gia quan hệ có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng cũng thể hiện một xu thế phát triển tất yếu trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế là các nước đối xử với luật nước ngoài ngang tầm quan trọng với luật trong nước nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các quan hệ dân sự, thương mại quốc tế, góp phần thực hiện chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia. Phù hợp với xu thế chung của thời đại, pháp luật Việt Nam cũng ngày càng quan tâm đến quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự, thương mại quốc tế. Quyền lựa chọn pháp luật áp dụng được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật. Điển hình như Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng, nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định này đã cho thấy các bên trong hợp đồng hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận lựa chọn pháp luật nước ngoài để áp dụng cho hợp đồng, dĩ nhiên, sự lựa chọn đó phải nằm trong khuôn khổ các quy định của pháp luật.

Trong lĩnh vực quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài, quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên chủ thể là rất quan trọng. Luật Thương mại năm 2005 có quy định “Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.

Trong lĩnh vực quan hệ hàng hải có yếu tố nước ngoài, Bộ luật hàng hải năm 2005 đã khẳng định quyền lựa chọn pháp luật của các bên chủ thể tại khoản 2, khoản 3 Điều 4. Tại Điều 3[4] Bộ luật Hàng hải năm 2015 (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2017, thay thế cho Bộ luật Hàng hải năm 2005) có quy định tương tự. Từ đó, có thể nhận thấy rằng, luật nước ngoài được áp dụng trong hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, do Bộ luật hàng hải quy định, tức là trên cơ sở quy phạm pháp luật xung đột trong Bộ luật này hoặc trong Điều ước quốc tế được áp dụng quy định áp dụng pháp luật nước ngoài. Ví dụ, khoản 2 Điều 3 quy định: “Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tổn thất chung thì áp dụng pháp luật nơi tàu biển ghé vào ngay sau khi xảy ra tổn thất chung đó”.

Trường hợp thứ hai, do có thỏa thuận trong hợp đồng, tức là các bên chủ thể trong hợp đồng hàng hải thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài. Đây là quy định mà Bộ luật Hàng hải cho phép các bên chủ thể trong hợp đồng hàng hải có quyền thỏa thuận lựa chọn pháp luật nước ngoài để áp dụng. Quy định này phù hợp với thực tiễn quốc tế hiện nay và tạo điều kiện một cách thuận lợi nhất cho các bên chủ thể thiết lập quan hệ hợp đồng.

Các quy định đó cũng như các quy định khác trong các văn bản pháp luật Việt Nam về quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các cá nhân, tổ chức còn cho thấy rằng:

Một là, các bên tham gia quan hệ có quyền lựa chọn pháp luật nước ngoài hoặc tập quán quốc tế để áp dụng, nhưng không có quy định các bên có quyền lựa chọn điều ước quốc tế để áp dụng, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ thương mại quốc tế. Đây là một điểm còn hạn chế của pháp luật Việt Nam. Do vậy, về nguyên tắc, theo pháp luật Việt Nam các bên không có quyền lựa chọn điều ước quốc tế liên quan đến quan hệ giữa các bên để áp dụng. Chẳng hạn, trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một Công ước điển hình, thể hiện sự thống nhất cao, phù hợp với thực tiễn điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế. Nhưng theo các quy định của pháp luật Việt Nam thì các bên cũng không có quyền trực tiếp lựa chọn Công ước này.

Tuy nhiên, các bên tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vẫn có thể gián tiếp lựa chọn Công ước này thông qua việc lựa chọn pháp luật nước ngoài và pháp luật nước ngoài đó có quy định (quy phạm xung đột) cho phép các bên có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng, trong đó có cả lựa chọn điều ước quốc tế để áp dụng. Bởi vì, pháp luật Việt Nam có quy định dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài là áp dụng cả quy phạm thực chất và cả quy phạm xung đột. Khoản 3 Điều 759 Bộ luật Dân sự năm 2005 đều có quy định tương tự về vấn đề này. Vì thế, nếu pháp luật nước ngoài được áp dụng đó không dẫn chiếu tới pháp luật Việt Nam thì có thể dẫn chiếu tới pháp luật nước ngoài khác hoặc tới Điều ước quốc tế. Việc lựa chọn Công ước Viên năm 1980[5] theo cách đó là cần thiết đối với các bên chủ thể, bởi vì, trong xu thế toàn cầu hóa các quan hệ kinh tế quốc tế và chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay, việc áp dụng công ước Viên năm 1980 để điều chỉnh các quan hệ hợp động mua bán hàng hóa quốc tế là điều tất yếu mà các thương nhân Việt Nam phải tính đến khi đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài.

Hai là, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể các bên tham gia quan hệ lựa chọn pháp luật áp dụng đối với toàn bộ hay một phần quan hệ giữa các bên, và cũng không quy định về thời điểm lựa chọn pháp luật, đặc biệt là không có quy định các bên có quyền sửa đổi hoặc thay đổi sự lựa chọn pháp luật áp dụng. Đây cũng là điểm hạn chế của pháp luật Việt Nam, nó gây những khó khăn trong việc thực hiện pháp luật trong thực tiễn.

2. Áp dụng pháp luật nước ngoài điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở tòa án và trọng tài của Việt Nam.

Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là vấn đề nổi bật của kinh tế thế giới hiện nay. Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau càng cao giữa các quốc gia và khu vực. Điều đó cũng đồng nghĩa rằng việc áp dụng pháp luật nước ngoài là một nhu cầu khách quan không thể tránh khỏi ở tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự và thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển. Thời gian qua, cùng với sự phát triển của các giao lưu dân sự, thương mại, đầu tư, lao động,... giữa nước ta với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước trong khu vực, số lượng các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài được các tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết cũng gia tăng.

Mặc dù việc áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài là một trong những hoạt động diễn ra từ rất lâu và rất phổ biến trên thế giới, và mặc dù pháp luật Việt Nam đã có rất nhiều quy định cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết những vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp nhất định với những nguyên tắc nhất định nhưng đây vẫn là một hoạt động hoàn toàn mới mẻ đối với các tòa án. Mới mẻ ở đây không phải vì thực tế ở Việt Nam không có vụ án nào đòi hỏi phải áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết, và chúng ta cũng không thể nói rằng trong lĩnh vực này, các quy định của pháp luật đã đi trước thực tiễn, mà thực tế là việc các tòa án, trọng tài Việt Nam áp dụng pháp luật nước ngoài trong quá trình giải quyết một vụ án là rất hãn hữu, do đó, việc tích lũy kinh nghiệm hoạt động áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài là hoàn toàn chưa có.

Trong lĩnh vực trọng tài, Điều 14 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, có quy định về Luật áp dụng giải quyết tranh chấp, như sau:

“1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp.

2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.

3. Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.”. Thực tế, trọng tài Việt Nam đã dựa vào nhiều yếu tố của tranh chấp để xác định luật áp dụng cho hợp đồng. Ví dụ, vụ tranh chấp tranh chấp lớn về ưu đãi thuế theo hợp đồng phân chia sản phẩm liên quan đến một mỏ dầu khí ngoài khơi Việt Nam, mà (phía Việt Nam) PVN là bị đơn trong vụ tranh chấp. Theo lập luận của các nguyên đơn là họ ngầm định được hưởng một số ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, mặc dù các ưu đãi đó chưa từng được bàn đến trong các vòng đàm phán và cũng không được quy định trong hợp đồng phân chia sản phẩm hay giấy chứng nhận đầu tư có liên quan.

Để giải quyết vấn đề này, PVN và nguyên đơn đã đưa vụ việc ra trọng tài quốc tế. Một Hội đồng Trọng tài quốc tế được thành lập theo Quy tắc Tố tụng trọng tài của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) gồm các trọng tài viên hàng đầu thế giới. Trong quá trình cân nhắc vấn đề để đưa ra phán quyết, Hội đồng Trọng tài nhất trí với quan điểm của PVN là luật Việt Nam được áp dụng, đưa ra “một cách tiếp cận vấn đề linh động và đa dạng, phù hợp với quyền lợi thương mại hợp lý của Chính phủ Việt Nam và các công ty dầu khí quốc tế”[6].

Để hoạt động trọng tài thực sự hiệu quả thì luôn cần đến vai trò hỗ trợ và giám sát của Tòa án. Các quy định của Luật TTTM hiện nay về cơ bản đã đáp ứng được nội dung này, tuy từ thực tiễn cho thấy vẫn còn những quy định chưa phù hợp, còn những cách hiểu khác nhau làm phát sinh vướng mắc khi áp dụng Luật TTTM về vai trò của Tòa án đối với trọng tài như: việc xem xét lại quyết định của Tòa án hủy hay không hủy phán quyết trọng tài theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam; về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài… Trong khi đó, vấn đề bức xúc nhất hiện nay là tình trạng hủy phán quyết trọng tài của Tòa án đã và đang gây tâm lý lo ngại cho người dân và doanh nghiệp khi đưa ra quyết định lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài…

Việc áp dụng pháp luật nước ngoài ở các Toà án nước ta hiện nay đang là vấn đề có nhiều tranh cãi. Vấn đề đặt ra là việc Toà án nhân dân Việt Nam không áp dụng pháp luật nước ngoài khi có yêu cầu phải áp dụng thì có phải là Toà án đó đã vi phạm pháp luật không? Có ý kiến cho rằng, đối với những trường hợp mà quy phạm xung đột pháp luật cho phép các bên chọn pháp luật nước này hay nước kia để điều chỉnh quan hệ của họ và họ đã chọn pháp luật nước ngoài nhưng khi toà án áp dụng pháp luật Việt Nam, họ không có phản ứng gì thì toà án không vi phạm pháp luật. Ở đây, chúng ta coi như các đương sự từ bỏ pháp luật nước ngoài và ngầm chọn pháp luật Việt Nam.

Theo quan điểm của tác giả, việc toà án không áp dụng pháp luật nước ngoài khi quy phạm xung đột dẫn chiếu tới là toà án đã vi phạm pháp luật. Như đã phân tích ở trên, việc một quốc gia có cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của quốc gia đó, xuất phát từ yêu cầu của mỗi quốc gia trong quá trình bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như pháp nhân của nước mình, của chính bản thân mình trong giao lưu dân sự quốc tế. Nhưng khi việc áp dụng pháp luật nước ngoài đã được ghi nhận trong pháp luật quốc gia thì quốc gia đó cần phải tuân thủ những quy định đó. Không thể tự mình xây dựng luật rồi lại tự mình vi phạm luật. Trong thời đại ngày nay, khi mà chúng ta đang tiến tới xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì đây là điều cần phải khắc phục kịp thời.

3. Lợi ích của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên 1980[7]

3.1. Lợi ích về kinh tế

Việt Nam đang trên con đường hội nhập một cách chủ động và tích cực vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh các hoạt động thương mại quốc tế, trong đó thương mại hàng hóa vẫn là hoạt động sôi động nhất là động lực và từ lâu đã đóng vai trò quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong nước, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO. Do đó, việc xác định một nguồn luật thống nhất điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ mang lại lợi ích kinh tế không nhỏ cho Việt Nam vì hầu hết các cường quốc thương mại trên thế giới đều đã gia nhập Công ước Viên, trong đó có rất nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của Việt Nam, như: Pháp, Mỹ, Italia, Liên bang Nga, Canada, Đức, Hà Lan, Australia, Trung Quốc…Các công ty, doanh nghiệp của các nước này đã áp dụng và đã quen áp dụng Công ước Viên cho các hợp đồng mua bán hàng hoá ký với các đối tác nước ngoài.

Có thể khẳng định rằng, CISG mang lại cho Việt Nam ba lợi ích kinh tế lớn sau:

Thứ nhất, đơn giản hóa, giảm chi phí luật trong quá trình thương mại quốc tế.

Như chúng ta đã biết, càng ít nhân tố gây trở ngại nền kinh tế càng tự do thì thị trường càng hoạt động hiệu quả và có tính cạnh tranh cao. Trong đó nhân tố gây trở ngại lớn nhất cho giao dịch thương mại quốc tế, đăc biệt cho những nước đang phát triển như Việt Nam, chính là môi trường luật nước ngoài. Hơn nữa trong đàm phán ký kết hợp đồng giữa Việt Nam và các nước phát triển thì luật được chọn để điều chỉnh thường là luật của các nước phát triển vì các doanh nghiệp Việt Nam có ít thế và lực trong đàm phán lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Điều này làm doanh nghiệp trong nước khó đánh giá được kết quả kinh doanh vì môi trường luật của nước ngoài thường không ổn định và chứa đựng nhiều rủi ro.

Việc áp dụng CISG như một nền tảng luật cho các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ giảm sự bất ổn và các chi phí pháp luật liên quan. CISG cung cấp một nguồn luật mà các thương gia, thường là những người không chuyên về luật, dễ dàng hiểu rõ vì CISG được soạn thảo không phải bằng ngôn ngữ chuyên ngành luật. Như vậy sẽ giảm chi phí nghiên cứu tìm hiểu luật trước khi ký hợp đồng hay có bất kỳ tranh chấp nào xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng vì đã có một nguồn luật thống nhất.

Hơn nữa các doanh nghiệp trong nước sẽ ít phải áp dụng Luật nước ngoài, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội bảo vệ mình vì việc tham dự một phiên tòa tại nước ngoài, sử dụng nguồn luật nước ngoài là bất lợi lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những đối tượng ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ pháp lý. Những lợi ích do một văn bản thống nhất luật như Công ước Viên đem lại cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng lớn, thì chúng ta lại càng khẳng định những lợi ích mà Công ước này đem lại cho Việt Nam, một quốc gia ở đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 80% số lượng các doanh nghiệp.

Thứ hai, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có cơ hội cạnh tranh công bằng trên thị trường quốc tế.

Nếu các bên làm hợp đồng trên một cơ sở luật chung thì sẽ dễ dàng đánh giá các lựa chọn, chào giá khác nhau trên thị trường về rủi ro, độ chặt và nghĩa vụ trong hợp đồng. Điều này làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, mang lại lợi ích về mặt kinh tế không nhỏ.

Thứ ba, tăng cường hoạt động trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới

Với tính chất là một văn bản thống nhất luật, Công ước Viên đã thống nhất hoá được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Trong quá trình tiến hành trao đổi hàng hóa với các đối tác nước ngoài, việc áp dụng các văn bản luật quốc gia sẽ gây nhiều khó khăn, bất lợi, làm phát sinh những xung đột pháp luật với các nước khác và khi giải quyết tranh chấp cũng khó khăn. Khi gia nhập Công ước Viên, Việt Nam sẽ thống nhất nguồn luật áp dụng trong mua bán hàng hóa quốc tế với các nước đối tác khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Khi đó, các thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài sẽ cùng chung tiếng nói, cùng chung một cơ sở pháp lý và các mối quan hệ mua bán hàng hóa sẽ gắn chặt hơn, lâu bền hơn và rộng mở hơn nữa, tránh được các tranh chấp phát sinh.

3.2. Lợi ích về pháp lý

Ngoài những lợi ích về mặt kinh tế, việc tham gia Công ước Viên có thể đem lại những lợi ích rõ ràng cho Việt Nam về mặt pháp lý.

Thứ nhất, với nền kinh tế mới phát triển và mở cửa quốc tế chưa lâu, hệ thống quy phạm pháp luật của Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế còn rất nhiều thiếu sót và cần nhiều nguồn luật quốc tế bổ sung. Quan trọng hơn, như trên đã phân tích, các quy định này hầu hết được soạn thảo để điều chỉnh quan hệ dân sự trong nước, chứ không có những quy định cụ thể, riêng biệt cho giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế. Việc tham gia và áp dụng CISG sẽ giúp hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế theo hướng ổn định, rõ ràng, công bằng hơn và phù hợp với xu thế chung của luật pháp quốc tế.

Thứ hai, là một hệ thống Dân luật (Civil Law), cách tiếp cận của hệ thống luật Việt Nam khá trùng khớp với Công ước Viên, vì thế khi tham gia CISG Việt Nam sẽ không gặp phần lớn những khó khăn về tìm hiểu và áp dụng án lệ như trường hợp của các nước theo hệ thống Thông luật (Common Law), cũng như sẽ gặp ít khó khăn hơn về việc giải thích ngôn ngữ trong Công ước.

Thứ ba, việc CISG trở thành một phần luật nội địa sẽ tạo điều kiên cho việc xử án, xử trọng tài tại Việt Nam trở nên thống nhất và dễ dàng hơn, bởi chỉ có một nguồn luật được giải thích và áp dụng. Các doanh nhân, trọng tài viên, thẩm phán đều không cần xem xét, nghiên cứu và cân nhắc bất kỳ nguồn luật nước ngoài nào khác ngoài CISG. Việc giải thích và áp dụng CISG dễ dàng hơn rất nhiều việc viện dẫn đến một hệ thống luật địa phương, bởi vì việc diễn giải Công ước được hỗ trợ bởi Các nguyên tắc UNIDROIT, PECL (theo cơ chế “bổ sung luật”), các Bình luận Chính thức của Ban Tư vấn CISG,[8] các án lệ của CISG đăng tải trên hệ thống dữ liệu UNILEX, cũng như hàng ngàn bài viết học giả được đăng tải trên trang web chính thức của CISG (PACE).

Thứ tư, ngay cả khi Việt Nam không tham gia CISG, có nhiều trường hợp CISG vẫn sẽ được áp dụng trong thương mại quốc tế có một bên Việt Nam tham gia, cụ thể là: i) Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến luật một nước là thành viên CISG;[9] ii) Nếu các bên tham gia giao dịch cùng lựa chọn áp dụng CISG; iii) Khi trong hợp đồng các bên không lựa chọn luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp (tòa án hoặc trọng tài) lựa chọn CISG để giải quyết tranh chấp.

3.3. Các lợi ích khác

Ngoài lợi ích về mặt kinh tế và pháp lý nói trên, việc Việt Nam tham gia Công ước Viên cũng sẽ có ý nghĩa lớn về mặt chính trị và ngoại giao, vì CISG, vốn được xây dựng trên cơ sở hài hòa hóa lợi ích của các nước XHCN và các nước tư bản, các nước phương Đông và phương Tây, các nước đã phát triển và các nước đang phát triển, được đánh giá là một Công ước rất thành công và có ảnh hưởng bao trùm trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế. Với mục tiêu phấn đấu trở thành đầu tàu của khối ASEAN trong việc là cầu nối phát triển quan hệ ASEAN với các nước, tổ chức chính phủ khác trên thế giới, việc Việt Nam tham gia Công ước Viên sẽ đánh dấu vai trò to lớn hơn nữa của Việt Nam trong việc thúc đẩy phát triển quan hệ quốc tế nói chung.

4. Một số bất lợi của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên 1980

4.1. Bất lợi về kinh tế

Những bất lợi về mặt kinh tế do CISG mang lại không đáng kể, các quốc gia thành viên không có nghĩa vụ đóng góp về tài chính, không phải thành lập một cơ quan riêng để thực thi Công ước, cũng không có bất kỳ nghĩa vụ báo cáo định kỳ nào. Nhìn chung, các nguyên tắc của Công ước cũng phù hợp với các nguyên tắc chung của pháp luật hợp đồng Việt Nam. Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005 đã được ban hành trên cơ sở tham khảo các văn bản luật quốc tế, trong đó có Công ước Viên, và vì vậy, nhìn chung là tương thích với các nguyên tắc của Công ước này. Với lý do đó, khi gia nhập Công ước Viên, Việt Nam không phải sửa đổi pháp luật hiện hành và không phát sinh chi phí cho việc sửa đổi luật.

Tuy nhiên, trong giao dịch buôn bán quốc tế, mỗi ngành mỗi lĩnh vực đều có những điều khoản hợp đồng chuẩn đặc thù ví dụ mua bán dầu, gạo, hoa quả tươi… và các doanh nghiệp không muốn từ bỏ những điều khoản đã được sử dụng rộng rãi và quen thuộc này. Do đó cho dù Việt Nam có gia nhập CISG thì Công ước này cũng không thể điều chỉnh tất cả các hợp đồng mua bán quốc tế trong đó có Việt Nam tham gia. Hơn nữa việc áp dụng CISG cũng còn hạn chế trong quan hệ buôn bán giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp của các nước chưa tham gia công ước.

4.2. Bất lợi về pháp lý

Khi tham gia Công ước Viên, Việt Nam có thể gặp một số trở ngại về pháp lý sau:

Thứ nhất, nội dung Công ước Viên còn khá mới mẻ đối với hệ thống xây dựng pháp luật, tư pháp và trọng tài ở Việt Nam, vì vậy các bên Việt Nam (doanh nghiệp, tòa án, trọng tài) cần có nhiều thời gian hơn để nghiên cứu, hiểu rõ khi áp dụng CISG trong các quan hệ giao dịch thương mại quốc tế. Hiện nay tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu chuyên sâu về nội dung CISG cũng như thực tiễn áp dụng CISG trên thế giới để áp dụng tại Việt Nam. Điều này khiến việc diễn giải, áp dụng CISG trong thực tế của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, trong hệ thống giáo dục pháp luật của Việt Nam nói chung (ngoại trừ một số rất ít trường đại học chuyên ngành luật, hợp tác với nước ngoài) cũng chưa có nội dung nào giới thiệu, đào tạo chuyên sâu về CISG. Các doanh nghiệp, nhà thực hành luật Việt Nam cũng chưa có diễn đàn nào riêng để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về CISG như tại nhiều nước khác trên thế giới. Điều này cũng sẽ làm giảm sức mạnh, tiếng nói của các doanh nghiệp Việt Nam, và khả năng xét xử tòa án, trọng tài tại Việt Nam khi có tranh chấp liên quan đến CISG.

Để kết thúc bài viết này, tác giả xin được trích dẫn lời phát biểu của ông Trần Hữu Huỳnh – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, tại buổi Tọa đàm“Kỹ năng và Kinh nghiệp Trọng tài Thương mại Quốc tế” được Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam đã tổ chức vào ngày 16/12/2015 tại Hà Nội: “Việt Nam có thể coi là một quốc gia hội nhập bậc nhất ở Đông Nam Á, ngoài việc là thành viên của WTO, chúng ta còn ký kết các Hiệp định Thương mại tự do, mà gần đây nhất là Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương TPP. Cách đây vài ngày, Chủ tịch nước đã ký tham gia Công ước quốc tế về mua bán hàng hóa năm 1980 (CISG). Là một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế, chúng ta phải tham gia vào Luật chơi chung của Quốc tế. Việc phát triển Trọng tài thương mại là hệ quả tất yếu của quá trình hội nhập này.”

Phạm Thị Hồng Đào

[1] Điều 4. Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật1. Pháp luật của quốc gia đăng ký quốc tịch tàu bay được áp dụng đối với quan hệ xã hội phát sinh trong tàu bay đang bay và áp dụng để xác định các quyền đối với tàu bay.2. Pháp luật của quốc gia nơi ký kết hợp đồng liên quan đến các quyền đối với tàu bay được áp dụng để xác định hình thức của hợp đồng.3. Pháp luật của quốc gia nơi thực hiện việc cứu hộ hoặc giữ gìn tàu bay được áp dụng đối với việc trả tiền công cứu hộ hoặc giữ gìn tàu bay đó.4. Pháp luật của quốc gia nơi xảy ra tai nạn do tàu bay va chạm hoặc gây cản trở nhau, do tàu bay đang bay gây thiệt hại cho người thứ ba ở mặt đất được áp dụng đối với việc bồi thường thiệt hại.[2] Điều 5. Áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế
1. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.2. Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.[3] 3. Trong trường hợp Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận trong hợp đồng, nếu sự thoả thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[4] Điều 3. Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật
1. Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản trên tàu biển, hợp đồng thuê tàu biển, hợp đồng thuê thuyền viên, hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý, phân chia tiền công cứu hộ giữa chủ tàu cứu hộ và thuyền bộ của tàu cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm ở vùng biển quốc tế, các vụ việc xảy ra trên tàu biển khi tàu đang ở vùng biển quốc tế thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch.2. Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tổn thất chung thì áp dụng pháp luật nơi tàu biển kết thúc hành trình ngay sau khi xảy ra tổn thất chung đó.3. Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va, tiền công cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm xảy ra tại nội thủy hoặc lãnh hải của quốc gia nào thì áp dụng pháp luật của quốc gia đó.Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va hoặc cứu hộ xảy ra ở vùng biển quốc tế thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà Trọng tài hoặc Tòa án của quốc gia đầu tiên đã thụ lý giải quyết tranh chấp.Trường hợp tai nạn đâm va xảy ra ở vùng biển quốc tế giữa các tàu biển có cùng quốc tịch thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch.4. Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa thì áp dụng pháp luật của quốc gia nơi hàng hóa được trả theo hợp đồng.[5] Công ước Viên về Hợp đồng Mua bán Hàng hoá Quốc tế của Liên hợp quốc được thông qua năm 1980 (viết tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the International Sale of Goods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Công ước này áp dụng đối với các hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán có trụ sở thương mại tại các nước là thành viên của Công ước, song Công ước có sự nhất quán trong việc nhấn mạnh yếu tố tự do của hợp đồng, theo đó các bên có quyền quy định các điều khoản cụ thể theo thỏa thuận.Ngày 18/12/2015 vừa qua, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc (“CISG”) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này. Điều đáng chú ý là Việt Nam đã đi trước nhiều nước ASEAN khác để trở thành thành viên thứ 2 sau Singapore gia nhập Công ước quan trọng này. Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 1/1/2017.
[6] http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/vu-kien-pvn-va-xu-huong-moi-trong-xu-ly-tranh-chap-thuong-mai-122976.html
[7] http://www.trungtamwto.vn/node/913
[8] Ban tư vấn CISG (CISG-AC) được thành lập năm 2001 do nhu cầu ngày càng tăng của việc làm rõ các vấn đề tranh cãi liên quan đến CISG. CISG-AC đóng góp vào việc hướng dẫn giải thích Công ước Viên thông qua các Bình luận Chính thức. Hiện đã có 09 Bình luận Chính thức được công bố.Xem them tại <http://www.cisgac.com/> truy cập ngày 10/8/2009.
[9] Điểm b khoản 1 Điều 1 CISG: “Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.”

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

Năm 2015, mỗi tháng lại có thêm 1.000 trang giả mạo Facebook được lập ra nhằm đánh cắp tài khoản của người sử dụng.


Năm 2015, mỗi tháng lại có thêm 1.000 trang giả mạo Facebook được lập ra nhằm đánh cắp tài khoản của người sử dụng.

Phát hiện hơn 12.000 trang facebook giả mạo tại Việt Nam, Báo cáo Tổng kết an ninh mạng năm 2015 và dự báo xu hướng 2016 của Bkav cho thấy, mạng xã hội tại Việt Nam đang "bị ô nhiễm nặng".




Theo khảo sát của Bkav, 93% người sử dụng Facebook tại Việt Nam cho biết thường xuyên gặp phiền toái với tin nhắn rác, nội dung đồi trụy hay liên kết giả mạo có cài mã độc trên Facebook. Theo các chuyên gia của Bkav, không chỉ quấy rối, “rác” trên mạng xã hội còn mang theo nguy cơ “móc túi” người dùng với các nội dung lừa đảo như trúng thưởng khủng, khuyến mãi hấp dẫn...

Thống kê từ hệ thống giám sát của Bkav cũng cho thấy, mỗi tháng lại có thêm hơn 1.000 trang giả mạo Facebook được lập ra nhằm đánh cắp tài khoản của người sử dụng. Sau đó tài khoản bị đánh cắp sẽ được sử dụng để tiếp tục phát tán mã độc hoặc để lừa đảo, phổ biến nhất là chat với bạn bè của nạn nhân lừa nạp thẻ điện thoại.

Để phòng tránh, Bkav khuyến cáo khi tham gia mạng xã hội, người sử dụng cần chủ động xác minh lại các thông tin nhận được và không làm theo hướng dẫn trên các website chưa tin cậy.

Cũng theo Báo cáo này, năm 2015, người dùng Việt Nam bị thiệt hại 8.700 tỷ đồng do virus máy tính gây ra; Có đến 83% người tham gia chương trình đánh giá của Bkav cho biết USB của họ đã bị nhiễm virus ít nhất một lần trong năm; Hơn 48% người dùng cho biết họ phải chịu đựng tin nhắn rác làm phiền mỗi ngày...

Trong năm 2015 đã có 62.863 dòng virus máy tính mới xuất hiện tại Việt Nam. 61,7 triệu lượt máy tính đã bị lây nhiễm virus trong năm. Virus lây nhiều nhất là W32.Sality.PE, lây nhiễm trên 5,8 triệu lượt máy tính.

Trong năm, đã có 5.226 website của các cơ quan, doanh nghiệp tại Việt Nam bị hacker xâm nhập, trong đó có 340 website của cơ quan chính phủ và tổ chức giáo dục.

Tú Ân

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2016

Yêu cầu phải xóa ảnh người yêu cũ sau khi chia tay?

Yêu cầu phải xóa ảnh người yêu cũ sau khi chia tay?

Tòa án Liên bang Đức đã đưa ra phán quyết mọi công dân có quyền bắt buộc người yêu cũ phải xóa bỏ những bức ảnh của mình trong thời gian mặn nồng và có thể phạt tù 2 năm với những người vi phạm.


Mới đây, Tòa án Liên bang Đức đã đưa ra phán quyết mọi công dân có quyền bắt buộc người yêu cũ phải xóa bỏ những bức ảnh “nóng” của mình trong thời gian mặn nồng. Ảnh "nóng" ở đây bao gồm những bức ảnh chụp trong tình trạng khỏa thân, bán khỏa thân, phô bày những khu vực nhạy cảm trên cơ thể, mặc đồ lót hoặc những bức ảnh được chụp trước, trong và sau khi quan hệ tình dục...



Giới chức Đức đã không còn xem nhẹ những vụ việc xúc phạm nhân thân người khác trong các vụ trả thù tình trên mạng xã hội.

Giới chức Đức đã không còn xem nhẹ những vụ việc xúc phạm nhân thân người khác trong các vụ trả thù tình và việc tung những bức ảnh nóng lên mạng mà không nhận được sự đồng ý của người có liên quan sẽ bị coi là phạm tội hình sự, thậm chí người vi phạm có thể sẽ phải đối mặt với mức án tù giam lên tới 2 năm.

Hồi tháng 10 vừa qua, Tòa án Koblenz, phía Tây nước Đức đã xét xử vụ việc liên quan tới một nhiếp ảnh gia chụp rất nhiều ảnh "nóng" của bạn gái trong khoảng thời gian hai người yêu nhau và phán quyết khi đó đã thêm lần nữa được khẳng định trong quyết định mới này của Tòa án Liên bang Đức.

Người bạn trai trong vụ việc đã chụp rất nhiều ảnh khỏa thân của cô bạn gái trong và sau khi có quan hệ tình dục, thậm chí, chính cô bạn gái cũng tự chụp khá một số ảnh "nóng" rồi gửi cho bạn trai là nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp.

Theo Tòa án Liên bang Đức, ngay cả khi người phụ nữ đồng ý chụp ảnh "nóng" và các bức ảnh đó không bị công bố hay phát tán, hoặc không gặp phải tranh chấp khi bị đem ra sử dụng với mục đích riêng tư, thì người bạn trai cũ cũng không có quyền lưu giữ những bức ảnh đó, cho dù có là vì lý do nghề nghiệp.

Tuy nhiên, ngoài việc bị bắt buộc xóa hết ảnh "nóng" ra, anh này vẫn được quyền giữ lại những bức ảnh chụp bình thường của người yêu cũ làm kỷ niệm, vì việc này cũng không gây tổn hại gì tới danh dự của người phụ nữ.

Phán quyết của Tòa án Liên bang Đức nhận được sự ủng hộ rất lớn từ giới luật sư nước này, họ cho rằng sắc lệnh mới đã đem đến cho người dân một sự bảo đảm pháp lý quan trọng, đặc biệt là đối với phụ nữ, khi mà những vụ việc trả thù tình trên mạng đang ngày càng phổ biến.

Bị kiện vì tung ảnh 'nóng' của người yêu cũ lên Facebook

Ngày 5.1, TAND quận 2 (TP.HCM) xét xử sơ thẩm vụ án dân sự về bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm giữa nguyên đơn N.T.M.T (35 tuổi, ngụ quận 4, TP.HCM) và bị đơn là ông T.G.N (41 tuổi, ngụ quận 2, TP.HCM).

Được trả lại quà vẫn còn uất ức
Tại phiên tòa, bà T. cho biết, qua bạn bè giới thiệu, bà và ông N. bắt đầu mối quan hệ tình cảm yêu đương. Tuy nhiên, sau 1 thời gian qua lại, tìm hiểu bà T. thấy hai bên có nhiều quan điểm sống khác biệt cũng như trong cách cư xử với những người thân quen nên bà T. đề nghị chia tay. “Để rõ ràng, sau khi chia tay, ngày 18.6.2013, tôi gửi trả những quà tặng ông Nam đã tặng tôi trong thời gian còn yêu nhau”, bà T. nói.
Cũng theo bà T. sau thời gian dài không qua lại, tháng 5.2014, bà T. phát hiện ông N. sử dụng tài khoản Facebook với tên Trần Gia Anh để đăng những nội dung vu khống, xúc phạm, danh dự, nhân phẩm của bà. Đỉnh điểm, ngày 3.5 ông N. đưa 4 hình ảnh nhạy cảm của bà T. cùng những dòng thông tin có nội dung thô tục, xúc phạm nặng nề đến danh dự, nhân phẩm của bà.
“Nội dung xúc phạm tôi không thể trình bày bằng miệng nhưng thời điểm xảy ra, tôi đã mời văn phòng Thừa phát lại Q.Bình Tân lập vi bằng về tất cả nội dung cũng như lượt 'like', bình luận chửi bới tôi”, bà T. bức xúc.
Với những hành vi trên, khi bà T. tố cáo ra Công an Q.2 thì cơ quan này đã xử phạt hành chính ông N. 7,2 triệu đồng về hành vi “truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, xúc phạm nhân phẩm, uy tín của người khác”.
Yêu cầu xin lỗi công khai trên báo chí
Tại phiên tòa hôm nay, bà T. yêu cầu ông N. phải xin lỗi công khai bà trên báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Công an TP.HCM trong 3 số báo liên tiếp; buộc ông N. bồi thường thiệt hại tinh thần và chi phí hợp đồng với văn phòng Thừa phát lại Q.Bình Tân.
Đại diện phía bị đơn cũng thừa nhận những hành vi như nguyên đơn nêu; tuy nhiên, bị đơn chỉ đồng ý bồi thường thiệt hại bằng 10 tháng lương tối thiểu (hơn 11 triệu đồng), xin lỗi trực tiếp nguyên đơn, không đồng ý xin lỗi công khai trên báo chí vì luật không có quy định.
Không đồng ý, nguyên đơn cho rằng Facebook là mạng xã hội có lượt truy cập và phổ biến rộng (hiện ông N. không còn sử dụng Facebook trên), ông N. đã đăng tải những thông tin và hình ảnh xúc phạm bà được nhiều người 'like', bình luận nên nếu chỉ xin lỗi mỗi bà N. thì không ai biết rõ sự việc, như vậy là không công bằng với những gì mà bà T. phải chịu đựng.
Luật sư Vũ Quang Đức, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T. nêu pháp luật hiện hành chỉ quy định việc đăng xin lỗi, cải chính theo luật báo chí với những nội dung đăng tải trên báo chí trước đó nếu không đúng sự thật. Tuy nhiên, luật sư Đức cho rằng pháp luật dân sự có quy định về áp dụng pháp luật tương tự nên trường hợp này, việc yêu cầu đăng công khai xin lỗi, cải chính trên báo chí là phù hợp.
Dự kiến vào ngày 7.1, Hội đồng xét xử sẽ đưa ra bản án.


Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Thương mại điện tử Việt Nam B2C năm 2015 dự kiến đạt 4 tỷ USD


Thương mại điện tử Việt Nam B2C năm 2015 dự kiến đạt 4 tỷ USD


Nếu căn cứ vào số liệu trên và ước tính giá trị mua hàng trực tuyến của mỗi người vào năm 2015 tăng thêm 30 USD so với năm 2013, dự báo doanh số TMĐT B2C (Giao dịch trực tuyến giữa doanh nghiệp đến người tiêu dùng) của Việt Nam năm 2015 sẽ đạt dưới 4 tỷ USD. So với các nước trong khu vực, Thương mại điện tử (TMĐT) ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu, nhiều dự báo cho thấy TMĐT sẽ bùng nổ trong tương lai.

Thời cơ cho Thương mại điện tử Việt Nam!

Báo cáo mới nhất của eMarketer, một hãng nghiên cứu đến từ Mỹ cho thấy dịch vụ internet ở Việt Nam đang phát triển chóng mặt, một phần lớn là nhờ sự sôi động của thị trường điện thoại và cơ sở hạ tầng được đầu tư đúng mức. Tính đến tháng 12/2013, Việt Nam có khoảng 5,3 triệu thuê bao internet, đạt tỷ lệ thâm nhập là 35,6%; và 121,7 triệu thuê bao di động, trong đó 30% là smartphone.

TMĐT tại Việt Nam là một không gian cực kỳ đông đúc với rất nhiều người tham gia. Mặc dù kinh tế vĩ mô đang bị ảnh hưởng, thế nhưng tăng trưởng ở thị trường di động và internet vẫn tiếp tục diễn ra, đặc biệt là khi chi phí truy cập internet và cước thuê bao điện thoại đang giảm dần.

Hiệp hội TMĐT Việt Nam (VECOM) cũng đưa ra con số thống kê khá khả quan trong Báo cáo Chỉ số TMĐT Việt Nam 2013. Năm 2013 chứng kiến sự tiến bộ của các loại hình giao dịch trực tuyến B2B (doanh nghiệp với doanh nghiệp) và B2C (doanh nghiệp đến người tiêu dùng). Mức độ và hiệu quả sử dụng e-mail của các doanh nghiệp đều có bước tiến so với năm 2012 với 83% doanh nghiệp đã sử dụng e-mail để nhận đơn đặt hàng. Tỷ lệ này của năm 2012 là 70%.
Nếu căn cứ vào những số liệu trên và ước tính giá trị mua hàng trực tuyến của mỗi người vào năm 2015 tăng thêm 30 USD so với năm 2013, thì dự báo doanh số TMĐT B2C của Việt Nam năm 2015 sẽ đạt dưới 4 tỷ USD.

Tại Việt Nam, khoảng 1/3 dân số giờ đây đã sử dụng internet và 60% trong số họ lên mạng tìm kiếm thông tin về sản phẩm trước khi mua hàng. Tốc độ phổ cập internet đạt mức cao nhất Châu Á, với tăng trưởng trung bình là 20%/ năm trong giai đoạn 2000 - 2010. Các con số và sự kiện đáng chú ý này không chỉ là tín hiệu đáng mừng cho nền công nghiệp ứng dụng công nghệ cao mà còn là cơ hội lớn cho sự phát triển của các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử - vốn đang là một trong những mảng kinh doanh mũi nhọn của các ngân hàng hiện nay.

Đại gia nhập cuộc!

Phát triển cùng tốc độ tăng trưởng số lượng người dùng Internet, hình thức TMĐT Việt Nam cũng đã có những bước tiến sôi động và hiệu quả. Năm 2013, TMĐT Việt Nam sôi động từ những thương vụ đầu tư, sát nhập, thành lập quy mô lớn trong lĩnh vực TMĐT của hàng loạt tập đoàn trong và ngoài nước, các công ty giàu kinh nghiệm.

Năm 2014 được xem là năm bản lề đối với ngành TMĐT ở Việt Nam. Đây cũng chính là năm mà các doanh nghiệp trong nước chịu sức ép cạnh tranh rất lớn từ các công ty nước ngoài đã và đang tìm cách xâm nhập thị trường trong nước. Có thể kể đến những cái tên đình đám hiện nay như Rakuten của Nhật, Rocket Internet của Đức…

Mặt khác, các đại gia bán lẻ, các siêu thị điện máy, siêu thị cũng đã chuẩn bị lực lượng, tài nguyên, phương án để mở rộng và đẩy mạnh kênh online, đặt chỉ tiêu bán hàng online chiếm 5-10% tổng doanh số trong năm 2014 và 2015.

Chia sẻ về thị trường TMĐT tại Việt Nam, ông Beselin - Giám đốc điều hành Lazada Việt Nam đưa ra nhận định: “Năm 2014 sẽ là thời điểm bùng nổ mang tính chiến lược. Trong thời gian tới sẽ xuất hiện nhiều “tay chơi” tấn công vào Việt Nam trong lĩnh vực này. Điều này sẽ thúc đẩy ngành TMĐT phát triển với tốc độ nhanh. Song song đó, người tiêu dùng ngày càng tinh tế hơn trong việc chọn lựa nhà cung cấp hàng đầu”.

Ông Trần Trọng Tuyến, GĐ công ty DKT cho rằng: “Nếu xem quá trình phát triển TMĐT là một con dốc vừa cao vừa dài, các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Trung Quốc đã sắp lên đến đỉnh dốc thì Việt Nam chúng ta mới chỉ mới bắt đầu leo dốc, khoảng cách ấy vào khoảng 5-7 năm. Lo ngại về sản phẩm kém chất lượng, người bán không thực hiện đúng cam kết, trả lại hàng hóa, bảo hành… làm cho quy mô và doanh thu thị trường chưa đạt được đúng tiềm năng”.

Không chỉ các doanh nghiệp đầu tư thương mại đón đầu xu thế mà các đơn vị cung cấp công cụ thanh toán trực tuyến cũng bắt đầu vào cuộc. Năm 2011, Viettel bắt đầu tham gia vào lĩnh vực này với dịch vụ BankPlus nhằm bắt kịp xu hướng bùng nổ của TMĐT tại Việt Nam.
Nhận thấy rõ tiềm năng về thị trường giao dịch tài chính, thanh toán trực tuyến và TMĐT ở Việt Nam là rất lớn, Tổng công ty Viễn thông Viettel đã đón đầu xu thế bằng quyết định triển khai dịch vụ BankPlus trên tinh thần sáng tạo, tối ưu hóa công nghệ và tối đa hóa việc đa dạng dịch vụ dựa trên nhu cầu thực tế của cuộc sống.


BankPlus là dịch vụ thanh toán trực tuyến thông minh, được tích hợp ngay trên Sim Viettel giúp khách hàng thực hiện được các giao dịch ngân hàng một cách an toàn, nhanh chóng ngay trên điện thoại di động cá nhân.

Điểm nổi trội của BankPlus là ứng dụng đơn giản, không mất thời gian soạn tin nhắn, không phải ghi nhớ cú pháp và thích hợp với tất cả các loại điện thoại di động. Khách hàng có thể sử dụng BankPlus mọi lúc, mọi nơi có sóng di động Viettel mà không cần phải kết nối Internet hay cài đặt phần mềm BankPlus còn có tính bảo mật cao do các giao thức bảo mật bằng mật khẩu và mã xác thực.Theo đó, người sử dụng có thể hoàn toàn an tâm khi sử dụng dịch vụ, ngay cả trường hợp bị mất điện thoại.

Không chỉ giúp chủ tài khoản quản lý thông tin tài khoản cá nhân chuyển tiền qua số điện thoại/qua thẻ,chuyển tiền chứng minh nhân dân… BankPlus còn hỗ trợ người sử dụng nạp tiền điện thoại, thanh toán hóa đơn, mua sắm online… rất an toàn , tiết kiệm, hiệu quả.

Chính vì sự tiện dụng trong công nghệ lại đáp ứng cùng lúc nhiều nhu cầu của người tiêu dùng, và nhiều đối tượng khách hàng nên BankPlus đã nhanh chóng trở thành một dịch vụ mobile banking được ưa chuộng và nhiều người sử dụng bậc nhất tại Việt Nam. Sau 3 năm đưa vào hoạt động, đến nay BankPlus của Viettel đã có hơn 2 triệu thuê bao và liên kết được với 14 ngân hàng hàng đầu Việt Nam; tạo ra doanh số chuyển tiền lên đến hơn 1.000 tỷ/tháng và doanh số thanh toán cước lên đến hơn 100 tỷ/tháng.
Có thể nói, sự đầu tư của các doanh nghiệp cộng với hỗ trợ đắc lực của công cụ thanh toán trực tuyến như BankPlus của Viettel sẽ giúp cho TMĐT của Việt Nam thực sự bùng nổ trong thời gian tới.

H.Hạnh

Người dùng bị thu thập thông tin cả khi không vào Facebook


Người dùng bị thu thập thông tin cả khi không vào Facebook

Facebook đã nắm rõ tên tuổi, giới tính, sở thích... của người dùng nhưng giờ còn muốn biết cả thói quen duyệt web bên ngoài Facebook của các thành viên.

Nhiều người dùng đã không ít lần cảm thấy như đang bị Facebook, Google theo dõi từng đường đi nước bước trên Internet. Chẳng hạn, nếu bạn tra cứu về cầu Golden Gate trên Google, khi truy cập YouTube và Facebook, bạn sẽ thấy ngay những quảng cáo về các chuyến du lịch giá rẻ tới San Francisco (Mỹ). Hay khi chat Facebook với một ai đó về giày dép trong Messenger, News Feed của bạn sẽ xuất hiện những quảng cáo về thời trang ở cột trái.


Các hoạt động của người dùng Facebook được thu thập để hiển thị quảng cáo phù hợp.


Thực ra, không chỉ có Facebook và Google mà đa số các website đều nằm trong một mạng lưới quảng cáo nhất định. Mỗi mạng quảng cáo này để lại một mã gọi là "cookie" trong máy tính của người dùng. Khi họ ghé thăm một trong những website thành viên, trang đó sẽ nhận ra cookie và giúp hệ thống biết họ đang ở đâu để có thể cung cấp những quảng cáo cá nhân hóa.

Những site thành viên này biết những gì khách truy cập thực hiện trên trang để xây dựng cơ sở dữ liệu về những gì họ quan tâm và không quan tâm. Từ đó, hệ thống quảng cáo sẽ lựa chọn hiển thị những đường link mà khả năng người sử dụng bấm vào sẽ cao hơn.

Năm 2013, quảng cáo cá nhân hóa mang đến cho các nhà quảng cáo trực tuyến 42,8 tỷ USD và con số này tăng 15% lên 49,45 tỷ USD vào năm 2014. Nhưng đa số website chỉ có thể tính toán dựa trên các cú nhấp chuột của người dùng. Còn Facebook thậm chí biết rõ "bạn đang nghĩ gì". Nó biết bạn là ai, ở đâu, bao nhiêu tuổi, bạn bè như thế nào, bạn "thích" gì, hay chia sẻ những thông tin gì trên mạng xã hội. Đây chính là lợi thế mà Facebook đang hơn hẳn các website khác, kể cả Google trong việc triển khai quảng cáo cá nhân hóa.

Tuy nhiên, giữa tháng 9, Facebook tuyên bố sẽ thu thập cả những dữ liệu của người dùng thông qua cách họ sử dụng nút Like và Share đang được nhúng trên hàng chục triệu website và ứng dụng để tùy biến tốt hơn nữa những quảng cáo hướng tới người dùng. Thay đổi này sẽ bắt đầu được áp dụng trong tháng 10.

Đây là sự "cộng thêm" ngoài những thông tin mà Facebook đã khai thác trong các quảng cáo như thông tin tài khoản người dùng, hoạt động của họ trên News Feed.

"Chúng tôi hy vọng những quảng cáo mà mọi người nhìn thấy sẽ tiếp tục trở nên hữu ích và phù hợp hơn", Stephen Deadman, chuyên gia của Facebook, khẳng định.

Dù giờ mới được công bố, không ít người cho rằng Facebook đã triển khai, hoặc ít nhất đã thử nghiệm kiểu thu thập thông tin bên ngoài mạng xã hội này từ lâu. Facebook đã cho phép nhúng nút Like vào trong các website khác từ năm 2010.

Phát ngôn viên của Facebook cho rằng việc thu thập này về cơ bản không khác gì những công cụ mà đa số các website vẫn đang áp dụng để theo dõi thói quen duyệt web của khách ghé thăm. 

Nếu không thích thông tin của mình bị mang ra trao đổi, người dùng có thể mở mục Settings, chọn phần "Ads" và thay đổi các chế độ trong đó. Việc này không ngăn Facebook tiếp tục theo dõi bạn cũng như bạn sẽ vẫn thấy quảng cáo trên Facebook, nhưng ít nhất mạng xã hội lớn nhất thế giới sẽ không nhận được thông tin về các hoạt động của bạn trên website đối tác cũng như không gửi dữ liệu về bạn tới các nhà quảng cáo.

Người dùng có thể thay đổi thiết lập quảng cáo để hạn chế việc bị chia sẻ thông tin.


Facebook cũng đang phải đối mặt với nhiều chỉ trích liên quan đến các chính sách bảo mật của hãng, nhiều nhất là chính sách bắt người dùng phải đổi từ nick ảo sang tên thật, thậm chí bắt gửi ảnh chứng minh thư, bằng lái xe... để kiểm tra, đối chiếu.

Minh Minh

Website khiêu dâm nhiễm mã độc malware, lộ thông tin người dùng


Website khiêu dâm dùng quảng cáo của AdXpansion nhiễm mã độc malware, lộ thông tin hàng triệu người dùng


Theo IBTimes UK, công ty an ninh mạng của Mỹ, Malwarebytes, đã thống kê có tới hàng trăm trang web khiêu dâm đang trở thành mục tiêu của tội phạm sử dụng quảng cáo độc hại. Các chiến dịch tấn công được phát hiện gần đây và mục tiêu của chúng có sự góp mặt của hầu hết các trang web người lớn nổi tiếng như xHamster, Redtube và PornHub.


Hầu hết các website này đều sử dụng dịch vụ từ AdXpansion, một mạng lưới chuyên quảng cáo các dịch vụ cho người lớn. Điểm đáng chú ý là người truy cập vẫn bị ảnh hưởng ngay cả khi không nhập vào bất kỳ banner nào. Sự việc càng đáng lo ngại hơn bởi mỗi trang web kiểu này đều đang thu hút hàng triệu lượt xem mỗi ngày. 

Chris Boyd, một nhà phân tích ở Malwarebytes cho biết các trang web khiêu dâm thường có xu hướng ít kiểm soát quảng cáo dù điều này đảm bảo tính an toàn cho khách truy cập. Các dữ liệu quảng cáo thường có thông tin sai lệch hoặc mang theo lượng lớn các mã độc hại, malware.

Với các máy đã bị nhiễm malware dạng này, tội phạm mạng có thể chi phối toàn bộ hoạt động của thiết bị. Đáng chú ý là chúng có thể lấy cắp thông tin về mật khẩu, các tài liệu văn bản, email và thậm chí là cả các tài khoản ngân hàng. Các mã độc malware được cho là còn nguy hiểm hơn so với các dạng phần mềm tự mở hàng loạt website quảng cáo thông thường. Máy tính cá nhân thường là mục tiêu dễ bị lây nhiễm nhất sau đó đến các điện thoại chạy hệ điều hành Android hoặc các máy chạy iOS đã jailbreak. 

Malwarebyte đã liên lạc với AdXpansion để cánh báo về các quảng cáo độc hại nhưng chưa nhận được phản hồi nào tính tới thời điểm này. 

Hoài Anh

Tại sao Facebook quảng cáo đúng những gì bạn đang tìm kiếm


Tại sao Facebook quảng cáo đúng những gì bạn đang tìm kiếm

Bạn đã bao giờ thắc mắc vì sao sau khi tìm thông tin về một chuyến du lịch trên Google, tài khoản Facebook của bạn hiện một loạt quảng cáo về các khách sạn ở nơi đó.

Điều này là bởi vì Facebook đã sử dụng Cookie để thu thập dữ liệu, từ đó tìm hiểu xem đâu là sở thích của người dùng. Tuy nhiên, khi nhìn thấy thông báo về việc sử dụng Cookie, nhiều người đã bỏ qua một cách dễ dàng mà không tìm hiểu về chính sách quyền riêng tư này.

Vậy Cookie là gì?


Dòng thông báo của Google về Cookies.


Về cơ bản, Cookie là một file nhỏ dưới dạng văn bản sẽ được tải về máy của người dùng khi họ truy cập một trang web nào đó. Từ đó, trang web có thể nhận diện thiết bị của người dùng ở những lần truy cập sau và lưu trữ những thông tin nhất định về họ như sở thích online, hoạt động trong quá khứ.

Nếu một website muốn sử dụng Cookie, nó phải tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản sau: Thông báo công khai sự có mặt của Cookie; giải thích chức năng của Cookie ở trang web đó và lý do cho việc cài đặt Cookie; phải được sự đồng ý của người sử dụng.

Khi một trang web đã đưa ra đầy đủ thông tin ở lần đầu, những lần sau, khi người dùng truy cập, họ không cần lặp lại những nguyên tắc trên nữa. Tuy nhiên, điều này có thể gây ra một số vấn đề bởi lẽ một thiết bị và một địa chỉ IP có thể được sử dụng bởi nhiều người khác nhau.

Ngoài ra, nếu một trang web muốn lưu trữ thông tin từ thiết bị của khách hàng, dù có bằng biện pháp Cookie hay không, nó vẫn phải thông báo công khai cho người sử dụng. Việc cài đặt phần mềm gián điệp hay phần mềm do thám bí mật để khai thác thông tin từ thiết bị của người dùng cũng là không được phép nếu họ chưa đồng ý.

Các trang web muốn cài đặt và sử dụng Cookie đều phải rõ ràng và minh bạch về mục đích của mình. Họ phải giải thích một cách cụ thể, dễ hiểu Cookie hoạt động như thế nào và họ dùng những thông tin từ Cookie để làm gì. Người dùng cần hiểu được những lợi ích cũng như tác hại tiềm tàng của việc chấp nhận chính sách quyền riêng tư này.

Ngoài ra cách giải thích cần phải phù hợp với lứa tuổi khán giả của họ, ví dụ người già, người trẻ... Tuy nhiên, nhiều quốc gia không bắt buộc quy định này.

Tuy nhiên cũng có một số trường hợp các trang web có thể sử dụng Cookie mà không cần sự đồng ý của người sử dụng. Ví dụ, Cookie được sử dụng với mục đích hỗ trợ đường truyền giữa thiết bị của người dùng và máy chủ của trang web. Cookie được sử dụng để cung cấp một nhu cầu "rất cần thiết" cho người dùng cũng không cần sự đồng ý. Như vậy bạn có thể không hay biết rằng một trang web đang sử dụng Cookie nếu như chỉ với mục đích đẩy nhanh tốc độ tải dữ liệu hay phòng chống tội phạm mạng.

Tuy nhiên, các chuyên gia an ninh mạng đều khuyên rằng các trang web nên cung cấp những thông tin cơ bản về Cookie mặc dù điều này là không phải lúc nào cũng bắt buộc.

Vậy thì những quy định xung quanh Cookie ảnh hưởng như thế nào đến ứng dụng di động?

Rất nhiều ứng dụng có khả năng truy cập vào một số dữ liệu cá nhân của người dùng như ảnh, danh bạ. Vì vậy, các nhà phát triển ứng dụng cần phải rất minh bạch trong việc ứng dụng của họ truy cập những loại dữ liệu gì, vì mục đích gì. Điều này phải được thông báo đến người dùng trước khi họ cài đặt ứng dụng.

Nguyễn Mai Đức

Không có gì là miễn phí trên Internet


Không có gì là miễn phí trên Internet

Một nghiên cứu thực hiện trên 800 trang web cung cấp các dịch vụ download dữ liệu miễn phí chỉ ra rằng 30% số trang web đó đã cài phần mềm gián điệp lên máy tính người dùng, với cái tên BitTorrent Site đã thực hiện cài phần mềm gián điệp lên máy tính người dùng trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 8/2015. Các chuyên gia an ninh mạng nhận định, thông tin cá nhân của ít nhất 12 triệu người dùng Internet mỗi tháng đã bị đe dọa vì nguyên nhân này.


Phần lớn các trang BitTorrent đều chứa mã độc.

Báo cáo trên một lần nữa lại làm nhiều người đặt câu hỏi: "Vậy những phần mềm được quảng cáo là miễn phí trên Internet có thực sự 'miễn phí' hay không?". 

Giám đốc trung tâm nghiên cứu và phòng ngừa tội phạm mạng Digital Citizens Alliance của Mỹ, ông Tom Galvin, cho rằng, các trang web cung cấp dịch vụ download miễn phí đơn giản chỉ là những cái bẫy điện tử. “Những website này luôn ăn cắp nội dung từ các nhà sản xuất sau đó gán mác miễn phí cho những nội dung này. Sau khi khách hàng nhấn chuột vào những quảng cáo chứa mã độc, thông tin cá nhân của họ sẽ bị lấy trộm và rao bán trên thị trường chợ đen với giá từ 20 – 45 USD cho dữ liệu từ một người dùng. Năm 2015, các BitTorrent Site đã thu về khoản tiền 70 triệu USD nhờ những hoạt động thế này”, ông Tom chia sẻ.

Tuy nhiên, ông Tom cũng thừa nhận rất nhiều người sử dụng Internet không thể tự vệ trước mối nguy hại từ những "món hàng" miễn phí trên Internet. 45% phần mềm gián điệp của các trang BitTorrent Site sẽ tự động kích hoạt và đánh cắp dữ liệu của người dùng ngay sau khi nó được tải về máy tính của họ. Những phần mềm gián điệp này có chức năng scan và tìm kiếm thông tin cá nhân nhạy cảm như tài khoản ngân hàng, số chứng minh thư hay hộ chiếu cá nhân.

Các nhà nghiên cứu thuộc viện Digital Citizens Alliance cũng đã tiến hành một thử nghiệm để so sánh độ an toàn giữa những website chân chính (có trả phí) và những website cung cấp dịch vụ tải phim miễn phí như Pirate Bay, Kickass Torrents, ExtraTorrent, Putlocker. Kết quả cho thấy, trong khi 2% số trang web chân chính bị phát hiện chứa các phần mềm gián điệp, thì con số này của nhóm website còn lại lên đến 33%.

Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cảnh báo, vì cấu trúc rất linh hoạt, nên một trang web có thể được đánh giá là an toàn trong hôm nay nhưng có thể bị nhiễm mã độc trong ngày mai.

Thực tế đã chứng minh việc chấm dứt nạn ăn cắp thông tin cá nhân của người dùng qua hình thức cho tải nội dung miễn phí là rất khó. Khi một website bị chặn, nó thường bị chặn bởi một nhà mạng của một quốc gia nhất định. Kể cả khi cảnh sát quốc tế ra tay ngăn chặn và đánh sập máy chủ của website đó, thì những người làm trong lĩnh vực này sẽ di chuyển hoạt động kinh doanh đến những website ở quốc gia khác. Chính vì thế mọi việc ngăn chặn gần như không thể.

Vậy đâu là cách phòng tránh?

Dan Manning, người đã dành gần như toàn bộ cuộc đời vào việc nghiên cứu lĩnh vực an ninh mạng và bảo mật thông tin cá nhân, nhấn mạnh: “Không có gì là miễn phí trên Internet”. Ông cho hay, cách phòng tránh mất cắp thông tin cá nhân tốt nhất là cẩn trọng với những đường link, bao gồm quảng cáo, email, thư trúng thưởng...

Nhiều người chủ quan cho rằng các phần mềm diệt virus là liều thuốc kháng lại tất cả những mối đe dọa về an ninh mạng, nhưng nên nhớ phần mềm diệt virus chỉ như một cái đai an toàn. Nếu chiếc xe của bạn đang lao xuống vực thẳm, thì cái đai đó cũng chỉ vô dụng mà thôi.

Nguyễn Mai Đức