Công ty Luật Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 334 Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Điện thoại: 0911666884- 0924.488.884.

Công ty Đấu giá Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 07 Khúc Hạo, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng

Kim Trọng Hùng Group Kính chào Các bạn

Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng. Website:luatkimtronghung.com.

Luật sư Vũ Trọng Kim-CT Hội cựu TNXP

Ủy viên trung ương ĐCS khóa VIII, IX, X, XI. Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XIII, XIV.

Luật sư Nguyễn Cao Hùng-Giảng viên thỉnh giảng Luật Đầu tư

Tác giả sách: 200 câu hỏi đáp về Khiếu nại, tố cáo. Đồng tác giả sách: Bình luận KH BLTTHS 2015-XNB CAND

Thứ Hai, 22 tháng 2, 2016

Filibuster (Quyền được nói cho đến khi kiệt sức) - đó là thủ tục rất nổi tiếng của Thượng viện Hoa Kỳ



Filibuster (Quyền được nói cho đến khi kiệt sức) - đó là thủ tục rất nổi tiếng của Thượng viện Hoa Kỳ – Một sự “điên rồ” của nền dân chủ Mỹ.

Filibuster là một thuật ngữ không có nghĩa tương đương trong tiếng Việt. Nó có gốc từ tiếng Hà Lan – có nghĩa là “cướp biển” . Có nhiều tranh luận về phạm vi cụ thể của filibuster, nhưng theo Thượng viện Hoa Kỳ thì dường như filibuster được dùng để chỉ việc tranh luận không giới hạn (unlimited debate) của các thượng nghị sĩ . Không giới hạn ở đây tức là không giới hạn về thời gian, chủ đề, và các lập luận. Thượng viện giới hạn về không gian tranh luận (trong khuôn viên nghị trường), nhưng ngược lại không buộc hay đặt câu hỏi đối với các thượng nghị sĩ về nội dung họ dùng trong bài phát biểu của mình. Đây có thể coi là một “quyền” đặc biệt đối với Thượng viện Hoa Kỳ và một số cơ quan lập pháp cấp tiểu bang, nơi luật của họ không giới hạn thời gian phát biểu của nghị sĩ. Tại Hạ viện Hoa Kỳ, filibuster chấm dứt từ năm 1842 khi cơ quan này đưa ra luật giới hạn thời gian tranh luận.

Không ai có thể nêu đích xác là rốt cuộc filibuster có thể đem lại điều gì cho xã hội. Nhiều người coi đây là một thủ thuật chính trị bẩn để làm trì hoãn một đạo luật nào đó. Điều này có lẽ để ngõ cho dư luận phán xét. Thế nhưng, có một thực tế đó là những quốc gia tôn trọng filibuster luôn tự hào xem đó là “đỉnh cao của nền dân chủ” vì nó thể hiện sự tôn trọng tối đa, gần như mù quáng, quyền được nói của một ai đó. Và đó có thể gọi là sự “điên rồ” của một nền dân chủ, và đôi khi chúng ta cần những thời khắc “điên rồ” như vậy.

Các vụ filibuster nổi tiếng

Lịch sử Hoa Kỳ không thiếu các ví dụ về filibuster, cả ở cấp độ liên bang lẫn tiểu bang, kể từ vụ filibuster đầu tiên được ghi nhận vào năm 1837.

Vào tháng 9 năm 2013, tờ USA Today đưa ra danh sách 5 vụ filibuster nổi tiếng nhất lịch sử lập pháp liên bang Hoa Kỳ. Điểm thú vị là vụ filibuster hư cấu của Jefferson Smith như nêu ở trên cũng được chọn trong danh sách. Bốn vị trí còn lại thuộc về vụ filibuster của:

1> Rand Paul năm 2013, kéo dài 13 tiếng nhằm phản đối chính sách dùng máy bay không người lái để tiêu diệt mục tiêu (thường là để lại thương vong lớn). Rand Paul dùng filibuster để trì hoãn việc Thượng viện bỏ phiếu xác nhận việc bổ nhiệm ứng viên giám đốc CIA John Brennan – một người ủng hộ chính sách này. Cuối cùng, John Brennan vẫn được bổ nhiệm bất chấp nỗ lực 13 tiếng đồng hồ của Rand Paul.

2> Huey P. Long năm 1935, kéo dài 15 tiếng 30 phút. Nổi tiếng là một chính khách dân túy, Long sở hữu một khả năng nói siêu hạng nên việc ông “tranh luận” liên tiếp trong hơn 15 tiếng là điều có thể tưởng tượng được. Tiếc thay lần này thì mục đích của Long khi filibuster không được tốt đẹp cho mấy, đó là cố gắng ngăn chặn việc thông qua đạo luật New Deal của tổng thống Roosevelt mà hậu quả của nó là việc các đối thủ chính trị của Long ở Louisiana có thể được lợi ích. Kết quả là New Deal vẫn được thông qua. Trong 15 tiếng đồng hồ, Long bị coi là “trơ trẽn” khi đưa vào bài phát biểu của mình cả những chủ đề không liên quan như một bài thơ của Shakespeare hay cả công thức nấu món nghêu của ông.

3> Wayne Morse năm 1953, phát biểu trong 22 tiếng 26 phút. Thượng nghị sĩ độc lập Morse cố gắng chống lại một đạo luật về khai thác dầu trên đất liền bằng cách phát biểu không ngưng nghỉ trong hơn 22 tiếng đồng hồ.

4> Storm Thurmond năm 1957, phát biểu trong 24 tiếng 18 phút. Đây là vụ filibuster dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cho đến nay (dài hơn cả vụ filibuster hơn 23 tiếng của Jefferson Smith trong phim). Thurmond cố gắng chống lại Đạo luật các Quyền Dân sự năm 1957 khi ông phát biểu trong hơn một ngày với nhiều chủ đề hoàn toàn không liên quan như cả công thức món ăn của bà nội ông v.v… Trợ giúp cho Thurmond là kẹo ngậm, viên sữa đặc và bánh sandwich steak. Kết thúc bài filibuster, ông tuyên bố: “Tôi dự định sẽ bỏ phiếu chống lại đạo luật” – điều mà ai cũng đã biết rõ.

5> Gần đây hơn, tại cấp độ tiểu bang, thượng nghị sĩ bang Texas, Wendy Davis đã thực hiện một vụ filibuster kéo dài gần 12 tiếng đồng hồ chống lại một dự luật siết chặt hơn nữa việc phá thai của phụ nữ bang Texas. Sự kiện ở Austin, Texas đã khiến bà Wendy Davis báo chí toàn liên bang chú ý, và bà cũng đã xuất hiện để trả lời phỏng vấn nhiều báo đài uy tín như CNN, New York Times…Wendy Davis đã rất khôn ngoan khi chọn ngày cuối cùng của phiên thảo luận tại Texas để làm filibuster vì theo luật của bang này, nếu đồng hồ điểm sang 12h ngày tiếp theo của phiên thảo luận cuối cùng thì xem như dự luật không được thông qua. Trong trang phục áo văn phòng nhưng đi giầy thể thao, bà Davis bắt đầu bài phát biểu trong sự cổ vũ của những người dự khán, đa phần là phụ nữ, và các đồng chí trong Đảng Dân chủ của bà.

Theo luật bang Texas, bà có thể filibuster đến khi nào bà thích miễn là bà không ngừng nói, không nhường diễn đàn cho ai (yield), không ngồi, và không để ai hỗ trợ. Bà được phép “vi phạm” ba lần trước khi phiên phát biểu của bà kết thúc. Cuối cùng, phó thống đốc bang Texas là người chủ trì phiên họp, cũng là đảng viên Đảng Cộng Hòa đã xác định bà Wendy vi phạm ba lần và buộc bà ngồi xuống, trong đó có một lý do đó là đồng nghiệp của Wendy đã giúp bà… kéo khóa ví lại khi bà đang phát biểu, xem như Wendy đã nhận được hỗ trợ. Những gì diễn ra sau đó rất cảm xúc khi để phản đối quyết định này của phó thống đốc bang, người dự khán và các thượng nghị sĩ đảng Dân chủ đã cùng hô to khẩu hiệu và làm ồn khán phòng trong suốt gần một tiếng cuối cùng của ngày, để rồi khi chuông đồng hồ điểm 12h, dự luật kể trên xem như đã “chết”. Đảng Cộng Hòa đã phải đợi một tháng sau để lại mở một phiên họp khác và thông qua dự luật trên.

Nhiều học giả cho rằng Filibuster đơn thuần chỉ là sự cuồng tín về quyền tự do ngôn luận chứ không thật sự mang lại kết quả chính trị nào nhất định. Nguồn: ảnh.

Filibuster trên thế giới

Filibuster là một đặc sản của Mỹ nhưng không phải chỉ có Mỹ mới có thể “nấu” được “món đặc sản” này. Tại Anh, Nghị viện cũng thi thoảng xuất hiện những vụ filibuster. Tại Canada, các nghị sĩ Quốc hội nước này có lần đã thay phiên nhau phát biểu để ngăn chặn một đạo luật. Tại Iran trước thời kỳ cách mạng Hồi giáo 1978, một nghị sĩ đã phát biểu trong bốn ngày liên tục để chống lại thỏa thuận dầu mỏ mà chính phủ nước này sắp ký với các công ty Anh – Mỹ.

Nghị sĩ tại các quốc gia có quy định giới hạn thời gian tranh luận cũng rất sáng tạo để nghĩ ra những “biến tấu” của filibuster. Chẳng hạn, ở New Zealand, các nghị viên nước này phản đối một đạo luật bằng cách bỏ phiếu rất chậm và nhiều người quyết định bỏ phiếu bằng tiếng Maori (tiếng thổ dân New Zealand) mà theo luật phải được dịch sang tiếng Anh để ghi nhận, mục tiêu chủ yếu là để trì hoãn việc thông qua một dự luật nào đó. Còn tại Pháp, nghị sĩ nước này từng đưa ra 137.499 yêu cầu sửa đổi trong một dự luật cho phép giảm vốn Nhà nước trong tập đoàn khí đốt Gaz de France vào tháng 8 năm 2006. Luật của Pháp buộc Quốc hội phải thảo luận và thông qua tất cả các yêu cầu sửa đổi do nghị viên đưa ra. Vì thế, người ta tính toán rằng Quốc hội Pháp phải mất 10 năm mới có thể thảo luận và thông qua toàn bộ 137.449 yêu cầu sửa đổi kể trên. Dự luật vì thế xem như chết trên thực tế.

Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia khác, việc thực thi filibuster gần như vô nghĩa hoặc không thể làm được do vai trò của các nghị viên còn hạn chế.





Bầu cử quốc hội ở nước Đức (Bundestag)


Bầu cử Quốc Hội ở nước Đức (Bundestag)

“Nếu bạn không phải là thành viên của một đảng phái chính trị, bạn có rất ít cơ may để ngồi vào một trong 600 ghế ở Quốc hội liên bang (Bundestag – Quốc Hội Đức)”. Đó là những gì mà một hướng dẫn viên đã nói với vị du khách trẻ khi viếng thăm.

Vai trò then chốt của đa dạng và sàng lọc đảng phái

Về cơ bản, pháp luật Đức ghi nhận rằng: “đảng phái chính trị sẽ tham gia vào sự hình thành ý chí chính trị của người dân”. Nhưng nhiều nhà khoa học chính trị khẳng định họ còn đi xa hơn thế, không chỉ “tham gia”, sự đa đạng của đảng phái chính trị quyết định những gương mặt có thể định hình chính trị ở Đức. Rất khó để có được ghế trong quốc hội đối với những ứng viên độc lập không có đảng chính trị nào hậu thuẫn. Và nguyên nhân dẫn đến điều này bắt nguồn từ một hệ thống bầu cử cực kỳ phức tạp.

Trong cuộc bầu cử quốc hội gần đây nhất ở Đức vào năm 2013, có 61,8 triệu người dân hội đủ điều kiện đi bầu. Tất cả đều là công dân Đức trên 18 tuổi; 3 triệu người trong số họ đi bầu cử lần đầu.

Những số liệu này được cung cấp bởi Cục Thống kê Liên bang, người đứng đầu cơ quan này cũng đã giám sát cuộc tổng tuyển cử. Mọi đảng phái muốn tham gia phải đăng kí chính thức với Cục để có thể tranh cử ở cấp quốc gia.

Những đảng phái này phải có thành viên trên khắp nước Đức, một Điều lệ thành văn và một cương lĩnh chính trị, nhằm giải thích nhiệm vụ chính trị của họ và thể hiện sự tuân thủ của đảng đối với các nguyên tắc dân chủ và Hiến pháp Đức (chứ không phải ngược lại -ND). Mỗi đảng phải có một ban điều hành, trụ sở phải nằm trên lãnh thổ Đức.

Bên trong tòa nhà Quốc Hội Đức.

Đảng nào chưa có đại biểu ở quốc hội Đức ở cấp độ tiểu bang hay liên bang, thì cần phải chứng minh rằng họ được ủng hộ rộng rãi thông qua việc thu thập chữ ký của 0,1 % cử tri để được bỏ phiếu.

Trong cuộc bầu cử năm 2013, 34 đảng phái chính trị về độ ủng hộ cấ đã được sàng lọc và chỉ có 9 trong số đó được tham gia tranh cử trên toàn 16 bang của Đức.

Phép thử 60 năm


Một vài trong số các đảng này có thể chỉ có vài trăm phiếu bầu ít ỏi trong Ngày Bẩu cử và do đó không bao giờ có thể bước chân vào Quốc hội liên bang.

Theo luật bầu cử của Đức, đảng phái chính trị phải đạt được tối thiểu 5% tỷ lệ phiếu bầu để vào nghị viện. Điều này nhằm đảm bảo sự ổn định thông qua việc ngăn chặn phân mảnh các đảng phái nhỏ trong bộ máy lập pháp – như những gì đã sách nhiễu nước cộng hòa Weimar (nước Đức trước đây) vào những năm 1920. Xây dựng số đông (majority building) và đưa ra quyết định là rất khó nhưng sẽ càng không thể nếu quốc hội bị chi phối bởi các nhóm nhỏ lẻ.

“Rào cản 5%” này đã giữ cho các đảng phái chính trị cực đoan khác không thể bước vào quốc hội liên bang. Tuy nhiên, một ngoại lệ của quy định 5% được áp dụng cho các đảng phái mà ứng cử viên của họ chiến thắng tại ít nhất 3 khu vực bầu cử.

Một bài học từ quá khứ khác là việc cho phép cử tri không chỉ bầu cho đảng phái và cương lĩnh của họ, mà còn chọn lựa cá nhân để đại diện cho lợi ích của khu vực. Từ đó, một sự kết hợp giữa đại diện theo tỷ lệ và một hệ thống đầu phiếu đa số tương đối đã được triển khai, cho phép mọi người đều được bầu 2 phiếu ở mỗi cuộc bầu cử. Hệ thống này về cơ bản đã không hề thay đổi trong 60 năm trở lại đây.

Một lần bầu cử – 2 lá phiếu

Với lá phiếu “đầu tiên” (“Erststimme”) cử tri chọn ứng cử viên mà anh ta ưng ý nhất.

Nước Đức được chia thành 299 khu vực bầu cử – mỗi khu vực tương ứng với 250,000 cư dân. Mỗi đảng có thể đưa một ứng cử viên vào một khu vực bầu cử. Và ứng viên độc lập cũng có thể tham gia, nếu họ thu thập được ít nhất 200 chữ ký từ những người ủng hộ. Ứng cử viên nhận được nhiều phiếu bầu nhất sẽ chiến thắng (đầu phiếu đa số tương đối).

Có 589 ghế ở Quốc hội liên bang Đức, và “lá phiếu đầu tiên” nhằm làm đầy một nửa số ghế này, đảm bảo mỗi quận đều có đại diện.

“Lá phiếu thứ 2” (“Zweitstimme”) là để bầu cho một đảng phái chính trị. Lần này là để xác định mặt bằng chung tổng thể của hạ viện: phần trăm số ghế mà mỗi đảng có được. Trong đại hội đảng, các đảng phái sẽ lập danh sách ứng cử viên cho mỗi bang của liên bang. Bang nào có dân số đông hơn sẽ được gửi nhiều đại biểu quốc hội tới hạ viện hơn các bang khác.

Cơ chế hoạt động của một lần bầu cử và hai lá phiếu. Nguồn: Ảnh.

Các đảng xếp hạng ứng viên của họ, và chỉ có một vài cái tên trong top được in lên lá phiếu. Vì vậy, khi cử tri chọn một đảng, anh ta không thể chắc chắn rằng cá nhân nào trong danh sách sẽ được vào hạ viện.

Quan điểm phản đối


Lấy ví dụ tên của Thủ tướng Angela Merkel, nó đã xuất hiện trong top danh sách của đảng CDU trên lá phiếu ở Mecklenburg-Western Pomerania. Đây là bang nơi có khu vực bầu cử của bà. Vì thế bà có hai cơ hội để vào hạ viện. Nếu bà có nhiều phiếu nhất tại khu vực bầu cử của mình, bà sẽ giành được một ghế chắc chắn. Nhưng nếu bà thất bại trong việc giành được sự ủng hộ của đa số cư dân ở đây, bà vẫn có thể bước vào hạ viện thông qua danh sách của đảng mình. Hình thức “lưới an toàn” này đã bị các nhà phê bình hệ thống bầu cử của Đức xem là có vấn đề.

Hiện đã có một số chỉ trích đối với hệ thống bầu cử ở Đức bởi những người muốn nhìn thấy tận mắt cá nhân các đại biểu mà tên của họ được thông qua ở cử tri đoàn của mình. Các nhà phê bình không đồng tình với trình tự thủ tục lên danh sách ứng viên của các đảng phái sau một bức màn khép kín.

Số khác thấy hệ thống này quá phức tạp. Trong lịch sử, lá phiếu đầu tiên và thứ hai thường có tỷ lệ tương ứng đồng nhất, nhưng sẽ có những lúc một đảng phái có được nhiều ghế chỉ với lá phiếu đầu tiên hơn là họ nên có nếu theo lá phiếu thứ hai với quy tắc tỷ lệ. Nếu điều đó xảy ra, đảng đó có thể giữ những vị trí bổ sung được gọi là “ghế lồi” (“Überhangmandate”).

Điều này theo hướng có lợi cho các đảng lớn như SPD và CDU, những đảng có khả năng đưa ứng cử viên về từng khu vực bầu cử. Tòa bảo hiến đã phán quyết rằng điều này đem đến cho họ những lợi thế không công bằng. Do vậy trong cuộc bầu cử 2013, các đảng khác đã được dự kiến nhận được nhiều ghế hơn để cân bằng./.

Nguồn: Dạ Lãm

Không phải chịu trách nhiệm về comment xúc phạm của độc giả nếu tòa báo đã kịp thời xóa bỏ bình luận đó.


Không phải chịu trách nhiệm về comment xúc phạm của độc giả nếu tòa báo đã kịp thời xóa bỏ bình luận đó.

“Một kỷ nguyên mới trong tự do ngôn luận mạng”, đó là bình luận của giới báo chí điện tử Hungary sau phán quyết của Tòa Nhân quyền châu Âu (Strasbourg), theo đó, tự do bình luận trên mạng (comment) là một trong những công cụ hữu hiệu nhất của sự thể hiện tự do biểu đạt, cơ quan tư pháp nên có cái nhìn và quan điểm thật thấu đáo trong các vụ kiện cáo, đừng để quyền này bị xâm phạm bởi những quyết định thiếu cân nhắc.

Bạn điều hành một tờ báo mạng, nhưng không có thời gian (và điều kiện kỹ thuật) kiểm soát nội dung mọi bình luận dưới các bài báo ở đó? Và chắc chắn, sẽ có những lúc, một số cá nhân hay tổ chức cho là bị ảnh hưởng, hoặc bị xúc phạm bởi những comment ấy, và đi kiện… tờ báo bạn? Tình huống dễ hình dung, phải không? Đó là trường hợp mà tờ index.hu, mạng tin lớn thứ nhì ở Hungary, và Hiệp hội Những nhà cung cấp nội dung (MTE) gặp phải trong một vụ việc kéo dài từ năm năm nay.

Và phán quyết đầu tháng 2 mới đây của Tòa án Nhân quyền Châu Âu (Tòa Strasbourg) được coi là một biến chuyển trong sự nhận định về quyền tự do ngôn luận trực tuyến (online), khi Tòa cho rằng nhà cung cấp nội dung không nhất thiết phải chịu trách nhiệm về những bình luận mà người sử dụng đưa ra.


Từ một vụ việc bảo vệ người tiêu dùng

Đầu năm 2010, sau nhiều phàn nàn của người tiêu dùng, truyền thông Hungary bắt đầu để ý tới một hiện tượng mà họ cho là “có vấn đề”: hai trang mạng quảng cáo bất động sản lớn tại Hung là ingatlanbazar.com và ingatlandepo.com (cùng thuộc một chủ sở hữu) gửi hàng loạt thư đòi nợ tới những người sử dụng các dịch vụ mà trước đó họ nói là miễn phí.

Ngày 25-2-2010, Hiệp hội Những nhà cung cấp nội dung – một hội chuyên ngành do các nhà cung cấp nội dung liên mạng, các tờ báo online thành lập năm 2001 nhằm đưa ra và giám sát Quy tắc Đạo đức chung cho các trang trực tuyến Hungary – đã cho đăng tải trên blog của họ một bài viết với nhan đề “Lại một cung cách kinh doanh phi đạo đức trên mạng” phê phán cách hành xử của hai trang mạng nọ.

Bài viết đó đã có hai bình luận chỉ trích các trang mạng quảng cáo, cùng chủ nhân của chúng, với những từ ngữ “rác rưởi”, “trộm cắp”… Sau đó, nhiều trang mạng, trong đó có mạng tin index.hu – trong chuyên mục có nội dung bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – đã đăng tải lại bài viết của MTE, và tại đó, đã xuất hiện nhiều comment hàm chứa những ngôn từ mang tính xúc phạm và nhục mạ.

Đây không phải là chuyện hiếm gặp trên mạng, tuy nhiên chủ nhân hai trang mạng quảng cáo đã lựa chọn một giải pháp bất ngờ: kiện index.hu và MTE lên tòa vì họ cho rằng, bài viết của MTE, việc đăng lại bài viết đó và một số bình luận của độc giả trên báo mạng là vi phạm các quyền cá nhân. Cho dù ngay sau đó, khi nhận ra tính chất xúc phạm của một số comment, index.hu và MTE đã cho hạ chúng xuống.

Cuộc đấu tư pháp giằng co

Phiên sơ thẩm diễn ra vào tháng 3-2011. Các bị đơn, MTE và index.hu đề nghị Tòa bác bỏ đơn kiện, vì theo họ, bài viết của MTE về hiện tượng mà họ coi là “phi đạo đức” không hề vượt quá những giới hạn của quyền tự do biểu đạt ý kiến, còn bình luận mang tính xúc phạm thì hoàn toàn là của các độc giả, các mạng không có điều kiện kiểm tra trước và họ đã cho hạ khi biết tới chuyện đó.

Rốt cục, Tòa sơ thẩm Hungary ra phán quyết cho rằng, bản thân bài viết của MTE và việc đăng lại nó thì không phạm luật. Tuy nhiên, Tòa nhận định rằng, một số bình luận đi kèm đã xâm phạm “danh tiếng” của nguyên đơn, và đây là trách nhiệm của các chủ trang index.hu và MTE vì, theo Tòa, phải coi các comment có tính chất như “thư bạn đọc”, tức tương đương nội dung được biên tập.

Bản án sơ thẩm không làm vừa lòng cả đôi bên. Nguyên đơn vẫn muốn Tòa phải coi bài viết của MTE là phạm luật, vì nó là nguồn cơn của những phản ứng dữ dội. Còn các bị đơn MTE và index.hu thì viện lý do các bình luận không phải là nội dung được biên tập, chúng xuất hiện mà không thông qua sự “kiểm duyệt” của chủ trang, vì không ai làm được điều đó do số lượng các comment quá lớn.

Nhận xét về phán quyết sơ thẩm, giới luật gia Hung cho rằng, nó đi ngược lại thực tế luật trước nay tại nước này, theo đó chủ trang mạng không có bổn phận kiểm duyệt những nội dung độc lập đến từ “cộng đồng”, và không phụ thuộc vào họ. Sau phiên sơ thẩm, MTE cũng đã đệ đơn khiếu nại lên Tòa án Hiến pháp, nhưng Tòa Bảo hiến Hungary cho rằng phán quyết nói trên là hợp hiến.

Tháng 10-2011, Tòa Phúc thẩm bảo lưu phán quyết sơ thẩm, cho rằng các bình luận mặc dù không phải là “thư bạn đọc” do tờ báo chủ trương đăng (nên không bị điều tiết bởi Đạo luật về các dịch vụ điện tử), mà là ý kiến của cá nhân, nhưng việc chúng mang tính xúc phạm người khác thì sẽ vẫn bị xử phạt bởi Bộ luật Dân sự Hungary. Không chịu thua, các bị đơn tiếp tục đưa vụ việc lên Tòa Tối cao.

Tuy nhiên, ở nấc thang cuối cùng của hệ tư pháp Hungary, MTE và index.hu vẫn tiếp tục thua kiện. Tòa Tối cao Hung cho rằng, nếu chủ dịch vụ mạng cho phép người đọc có thể đăng bình luận tại đó mà không thông qua “tiền kiểm soát”, thì họ cần phải tính đến chuyện có những comment vi phạm luật, và họ phải chịu trách nhiệm về điều đó.

Quyền tự do biểu đạt cần được bảo vệ

Quyết định tối hậu nói trên của Tòa Tối cao khiến giới báo mạng của Hungary xôn xao và bị khuấy động, một số mạng tin phải khóa chức năng bình luận để tránh bị kiện cáo lôi thôi. Nhận thấy trường hợp của mình khá điển hình trên góc độ quyền tự do ngôn luận có thể bị tổn hại bởi các phán quyết của Tòa các cấp, MTE và index.hu đệ đơn kiện Nhà nước Hungary lên Tòa án Nhân quyền Châu Âu ở Strasbourg.

Công dân và tổ chức của 47 nước thành viên thuộc Ủy hội Châu Âu đều có thể kiện các chính phủ thành viên ra Tòa Nhân quyền châu Âu. Ảnh: EHRC

Trong thời gian chờ đợi, vào tháng 6 năm ngoái, Tòa Strasbourg đã mở phiên xử trong một vụ án tương tự, rất được giới truyền thông và bảo vệ nhân quyền để tâm: vụ mạng điện tử Delfi kiện Nhà nước Estonia. Tuy nhiên trong dịp đó, Tòa cũng cho rằng một mạng tin phải chịu trách nhiệm về các bình luận mang tính nhục mạ cá nhân hay bạo lực, nếu người bị xúc phạm không thể “truy trách nhiệm” thủ phạm đã comment.

Với tiền đề có vẻ bất lợi như thế, nhưng phán quyết hôm 2-2 mới đây của Tòa Strasbourg thì lại đem phần thắng cho hai nguyên đơn MTE và index.hu, khi Tòa nhận định rằng, Tòa các cấp tại Hungary đã quá cứng nhắc khi không cân nhắc hơn thiệt giữa các quyền cơ bản mang tính đối lập (ở đây là quyền cá nhân và quyền tự do biểu đạt), khiến quyền tự do ngôn luận bị hạn chế bởi các phán quyết của họ.

Lý giải về quyết định đó, Tòa Strasbourg cho rằng, Tòa các cấp Hungary quả thực đã vi phạm điều 10 của Công ước Châu Âu về Nhân quyền, vốn đảm bảo người dân có quyền tự do biểu đạt của trong khuôn khổ một số hạn chế “phù hợp với luật pháp” và “cần thiết trong một xã hội dân chủ”. Tòa Strasbourg cũng nhận định, các bình luận nhắc tới ở trên quả thực phạm luật, nhưng chưa tới mức kích động bạo lực và hằn thù.

Do đó, Tòa Hungary lẽ ra cần lưu ý tới chuyện hai bị đơn đã kịp thời cho hạ các comment mang tính xúc phạm, bên cạnh đó, cần xem xét tới việc, nếu tuyên phạt các trang mạng vì những ý kiến bên ngoài mà họ không có khả năng rà soát trước, thì điều đó có ảnh hưởng thế nào tới tự do ngôn luận trên mạng nói chung. Nếu chỉ nhất nhất ưu tiên quyền cá nhân, thì đó là tư duy cứng nhắc, có hại cho nhu cầu tự do biểu đạt của người dân. 

Tờ index.hu cũng thừa nhận rằng, nếu họ không lập tức hạ comment đó xuống sau khi phát hiện ra thì phán quyết của tòa chắc chắn đã rất khác.



Nguồn: Nguyễn Hoàng Linh

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016

Robot luật sư cho những kháng cáo đơn giản

ROBOT LUẬT SƯ CHO NHỮNG KHÁNG CÁO ĐƠN GIẢN

Thuê một luật sư để kháng cáo một vé phạt đỗ xe không chỉ khiến bạn phải đau đầu, mà số tiền bỏ ra đôi khi còn đắt hơn tiền đóng phạt. Tùy thuộc vào mỗi vụ kiện và luật sư, mỗi bản kháng cáo – một quy trình pháp lý đề nghị duyệt xét lại việc nộp phạt – có thể tốn từ 400 tới 900 USD.

Nhưng với sự trợ giúp từ một robot được tạo ra bởi Joshua Browder, lập trình viên người Anh, 19 tuổi, bạn sẽ chẳng tốn một xu nào. Con bot này của Browder sẽ xử lý những thắc mắc về kháng cáo vé phạt đỗ xe tại UK. Kể từ khi đi vào hoạt động vào cuối năm 2015, nó đã kháng cáo thành công lượng vé phạt trị giá tới 3 triệu USD.
Robot của Browder có thể trợ giúp trả lời những thắc mắc về vé phạt đỗ xe.

Khi bạn đăng nhập, một màn hình chat hiện ra. Để biết về vụ kiện của bạn, con bot sẽ hỏi những câu hỏi như “Bạn có phải là người lái xe?” hay “Liệu biển báo đỗ xe có gây khó hiểu cho bạn?” Và rồi nó sẽ xuất ra một đơn khiếu nại, và bạn có thể mail đơn này tới tòa án. Nếu con robot này chẳng thể hiểu nổi sự tình, nó sẽ chỉ bạn cách liên lạc trực tiếp với Browder.

Trang web này vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm, và phiên bản hoàn thiện sẽ được phát hành trong vài tháng tới, theo lời của Browder, sinh viên năm nhất đại học Stanford.

Khi mà luật pháp được công bố công khai, các loại bot có thể tự động hóa những nhiệm vụ đơn giản mà những luật sư con người phải nhúng tay vào qua hàng thế kỉ. Sản phẩm của Browder cũng chẳng phải con bot luật sư đầu tiên. Bot của startup Acadmx cũng có thể tạo ra được những bản tóm tắt hồ sơ luật hoàn chỉnh. Còn có cả công ty Lex Machina thực hiện việc khai phá dữ liệu trên hồ sơ của các thẩm phán và đưa ra những dự đoán xem họ sẽ làm gì trong tương lai.

Không chỉ với vé phạt đỗ xe, bot của Browder còn có thể giúp giải quyết những chuyến bay bị hoãn hoặc delay và những khiếu nại thanh toán bảo hiểm bảo vệ. Mặc dù con bot chỉ có thể trợ giúp đệ trình những khiếu nại trên những vấn đề pháp lí đơn giản – nó chẳng thể tranh tụng trước mặt thẩm phán – nó cũng đã tiết kiệm được rất nhiều khoản tiền cho người dùng.

Browder lập trình robot của mình dựa trên một thuật toán hội thoại. Nó sử dụng từ khóa, đại từ và trật tự từ để hiểu rõ vấn đề của người dùng. Anh nói rằng càng nhiều người sử dụng con robot, nó sẽ càng trở nên thông minh hơn. Thuật toán của nó có thể phân tích rất nhanh lượng lớn dữ liệu trong khi tự hoàn thiện bản thân trong suốt quá trình.

Mặc dù Browder lập trình con bot dựa theo luật pháp UK, anh nói rằng nó vẫn có thể có ích tại Mỹ. Lấy ví dụ, nếu một chuyến bay từ New York tới London bị delay, người mua vé có thể dùng con robot để khiếu nại đền bù. Browder giờ đang tiến hành lập trình Luật thành phố của Mỹ lên con bot của mình, bắt đầu từ New York.

Trong tương lai, người ta sẽ chẳng cần phải thuê luật sư cho những kháng cáo pháp luật đơn giản - họ sẽ chỉ cần một con bot.

Trong khi Browder chẳng hề nghĩ rằng robot sẽ sớm thôi được tranh luận tại Tòa án tối cao Mỹ, nhưng anh tin răng, với việc trí thông minh nhân tạo phát triển, những luật sư phải làm các công việc nhàm chán sẽ ít đi.

“Tuy mới 19 tuổi, tôi đã tự lập trình toàn bộ con robot, và tôi nghĩ rằng việc nó thay thế những luật sư giải quyết án phạt đỗ xe là hoàn toàn hợp lý,” anh nói. “Tôi biết vẫn có hàng ngàn lập trình viên với hàng chục năm kinh nghiệm hơn tôi đang giải quyết những vấn đề tương tự.”

Nhưng những con bot như vậy có tương đương với việc thuê luật sư?

Tùy thuộc vào việc chúng có vượt qua ranh giới đạo đức khi đưa ra lời khuyên chủ quan, trích lời Bradley Moss, một luật sư tại DC chuyên ngành an ninh quốc gia. Nếu con bot trả lời những câu hỏi chủ quan, điều này được xem như là thực thi luật pháp, vốn chỉ được thực hiện hợp pháp bởi con người.

Moss nói:

“Có những giới hạn về pháp lí và đạo đức với những việc chúng có thể thực hiện. Những chương trình như vậy không thể, ít nhất trên quan điểm tầm thường của tôi, hiển nhiên đe dọa nghề luật. Tuy nhiên, chúng sẽ tiếp tục tinh giản quá trình xử lí những nhiệm vụ đơn giản mà được cho là con người có thể xử lí không cần tới – và bỏ ra chi phí – những trợ giúp pháp lý chính thức.”

Hầu hết những con bot trên là những công cụ có thể thu thập hồ sơ một cách nhanh chóng và phục vụ thông tin pháp lý. Bot sẽ không thể cung cấp tư vấn pháp lý một cách đầy đủ và xác thực nhất, và sẽ phải mất hàng thập kỉ để chúng có thể tinh vi như con người, trích lời Samuel Woolley, người theo dõi và nghiên cứu các con bot về chính trị.

“Robot chẳng thể thay thế con người hoàn toàn - ít nhất là không phải trong tương lai gần,” ông nói. “Chúng chẳng thể đưa ra những cái nhìn về xã hội sâu sắc và nhiều sắc thái bởi chúng thực sự không thể hiểu được những cảm xúc tinh tế và sự hài hước.”

Khi xe tự hành bắt đầu thống trị đường phố trong tương lai, chúng có thể sẽ tự động kháng cáo những đơn phạt về tốc độ. Browder cũng đã bàn bạc với những ông chủ về việc tích hợp bot của anh vào những chiếc xe của họ.

Anh cũng đang lập trình để con bot có thể xử lí những vấn đề pháp lý phức tạp hơn, bao gồm cả vấn đề tị nạn của người Syria. Rào cản ngôn ngữ cũng là một thử thách, khi mà con robot cần phải hiểu được tiếng Ả Rập nhưng phải tạo ra những tài liệu pháp lí bằng tiếng Anh. Con bot này có thể sẽ ra mắt vào mùa hè – và hoàn toàn miễn phí.

“Nếu một ngày mọi công dân đều có được tiêu chuẩn về đại diện pháp lí như mọi tỉ phú,” Browder nói, “thì đây sao có thể là điều không tốt đẹp cơ chứ?”

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

Happy new year


Thứ Năm, 4 tháng 2, 2016

Thương mại điện tử trong TPP (chương 14)


Ngày 04/2/2016 Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)



Đại diện 12 nước tham gia đàm phán TPP. (Nguồn: EPA)


Hôm nay, ngày 4/2/2016, Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) gồm Ốt-xtrây-lia, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po, Hoa Kỳ và Việt Nam đã tham dự Lễ ký kết để xác thực lời văn Hiệp định TPP tại Auckland, Niu Di-lân.

Được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng đã thay mặt Chính phủ Việt Nam ký xác thực lời văn Hiệp định TPP và 35 thỏa thuận song phương trong các lĩnh vực liên quan đến dịch vụ tài chính, dệt may, nông nghiệp, sở hữu trí tuệ… mà Việt Nam đã thống nhất với một số nước TPP.

Các thỏa thuận song phương này sẽ có hiệu lực cùng thời điểm với Hiệp định TPP.

Xem toàn văn Hiệp định TPP bằng tiếng Việt tại địa chỉ: http://tpp.moit.gov.vn/

Hiệp định bao gồm 30 chương, đề cập không chỉ các lĩnh vực truyền thống như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà còn cả các vấn đề mới như thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng, doanh nghiệp nhà nước v.v...

Bộ Công Thương đã công bố toàn văn Hiệp định TPP bằng 3 thứ tiếng gồm tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha đã được các nước ký xác thực lời văn và có giá trị pháp lý như nhau cùng các thư trao đổi song phương giữa Việt Nam với một số nước TPP.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cho hay, nhằm mục đích đáp ứng kịp thời và đầy đủ hơn nhu cầu thông tin của các cơ quan hoạch định chính sách, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, Bộ Công Thương cũng công bố bản dịch tiếng Việt do các Bộ, ngành có liên quan thực hiện.






CHƯƠNG 14 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 



Điều 14.1. Định nghĩa: 

Trong phạm vi của Chương này: Hệ thống máy chủ là các máy chủ và các thiết bị lưu trữ dùng để xử lý và lưu trữ thông tin phục vụ cho mục đích thương mại; Pháp nhân được bảo hộ 1 là: (a) một hoạt động đầu tư được bảo hộ như định nghĩa tại Chương II (Đầu tư) (b) một nhà đầu tư của một Bên như định nghĩa tại Chương II (Đầu tư), nhưng không bao gồm nhà đầu tư trong một tổ chức tài chính; hoặc (c) Nhà cung cấp dịch vụ của một Bên như định nghĩa tại Chương JJ (Thương mại dịch vụ qua biên giới), nhưng không bao gồm một tổ chức tài chính hoặc một nhà cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới của một Bên như định nghĩa tại Chương KK (Dịch vụ tài chính) Sản phẩm số là một chương trình máy tính, văn bản, video, hình ảnh, ghi âm hoặc sản phẩm khác được mã hóa bằng kỹ thuật số, sản xuất vì mục tiêu kinh doanh hay phân phối thương mại, và có thể được truyền đưa bằng điện tử; 2 3 Chứng thực điện tử là quy trình hoặc hành động xác minh danh tính của một bên đối với một giao tiếp hoặc giao dịch điện tử và đảm bảo tính toàn vẹn của một giao tiếp điện tử; Truyền đưa điện tử hoặc truyền được bằng điện tử là một hoạt động truyền tin được thực hiện bằng các phương tiện điện từ trường, kể cả bằng các phương tiện quang tử; Thông tin cá nhân là bất kỳ thông tin, bao gồm cả dữ liệu, về một thể nhân/tự nhiên nhân đã được xác định hoặc có thể xác định; Văn bản quản lý về thương mại là các mẫu được ban hành hoặc kiểm soát bởi một Bên cần phải được hoàn thiện bởi hoặc cho một nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu có liên quan đến việc xuất hay nhập khẩu hàng hóa; và Tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn là một tin nhắn điện tử được gửi vì mục đích thương mại hoặc marketing đến một địa chỉ điện tử thông qua một nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet hoặc dịch vụ viễn thông khác trong phạm vi quy định của luật và các quy định của mỗi Bên, mà không có sự đồng ý của người nhận hoặc bất chấp việc từ chối rõ ràng của người nhận. 



Điều 14. 2: Phạm vi và Các quy định chung: 

1. Các Bên ghi nhận các giá trị tăng trưởng kinh tế cũng như cơ hội mà Thương mại điện tử mang lại, cũng như tầm quan trọng của việc hình thành các khuôn khổ nhằm tăng cường lòng tin của người tiêu dùng vào thương mại điện tử và tránh những hàng rào cản trở không cần thiết đối với việc ứng dụng và sự phát triển của thương mại điện tử. 2. Chương này sẽ áp dụng đối với các biện pháp mà một Bên thông qua hoặc duy trì có tác động đối với hoạt động thương mại bằng các phương tiện điện tử. 3. Chương này sẽ không áp dụng đối với: (a) mua sắm chính phủ (b) các thông tin được nắm giữ hoặc xử lý bởi một Bên hoặc do Bên đó ủy quyền, hoặc các biện pháp liên quan đến các thông tin đó, bao gồm các biện pháp về việc thu thập thông tin. 4. Để rõ ràng hơn, các biện pháp có tác động đến việc cung cấp dịch vụ được thực hiện bằng phương thức điện tử sẽ còn tùy thuộc vào các nghĩa vụ có trong các điều khoản liên quan của Chương II (Đầu tư),/ Chương JJ (Thương mại dịch vụ qua 1 Đối với Australia, pháp nhân được bảo hộ không bao gồm tổ chức báo cáo tín dụng. 2 Để rõ ràng hơn, sản phẩm số không bao gồm dạng thức số hóa của công cụ tài chính, gồm cả tiền 3 Định nghĩa của sản phẩm số không nên được hiểu là sự phản ánh quan điểm của một Bên đối với vấn đề hoạt động kinh doanh các sản phẩm số thông qua truyền dẫn điện tử nên được phân loại là thương mại dịch vụ hay thương mại hàng hóa. biên giới) và chương KK (Dịch vụ tài chính), bao gồm cả các ngoại trừ hoặc các biện pháp không thương thích quy định trong Hiệp định này được áp dụng cho các nghĩa vụ đó. 5. Để rõ ràng hơn, các nghĩa vụ nêu trong các Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số), Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử), Điều 14.13 (Đặt hệ thống máy chủ) và Điều 14.17 (Mã nguồn) sẽ: (a) Tùy thuộc vào các điều khoản liên quan, các ngoại lệ và các biện pháp không tương thích của Chương II (Đầu tư), Chương JJ (Thương mại dịch vụ qua biên giới) và Chương KK (Dịch vụ Tài chính) và (b) Được hiểu đồng thời với các điều khoản liên quan khác trong Hiệp định này. 6. Các nghĩa vụ nêu trong các Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số), Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử), Điều 14.13 (Đặt hệ thống máy chủ) sẽ không áp dụng đối với các biện pháp có yếu tố không tương thích được áp dụng và duy trì theo như các Điều II.11 (Các biện pháp không tương thích của Chương Đầu tư), Điều JJ.7 (Các biện pháp không tương thích của Chương Thương mại dịch vụ qua biên giới) hoặc Điều KK.10 (Các biện pháp không tương thích của Chương Dịch vụ tài chính). 



Điều 14.3: Thuế hải quan: 

1. Không Bên nào được áp các loại thuế hải quan đối với các giao dịch điện tử, bao gồm cả nội dung được truyền đưa bằng phương thức điện tử, giữa một pháp nhân của một Bên với một pháp nhân của một Bên khác. 2. Để rõ ràng hơn, khoản 1 sẽ không ngăn cản một Bên áp các thuế nội địa, lệ phí hoặc các khoản thu khác đối với nội dung được truyền đưa bằng phương thức điện tử, miễn là các loại thuế, lệ phí hoặc khoản thu đó được quy định một cách phù hợp với Hiệp định này. 



Điều 14.4: Không phân biệt đối xử các sản phẩm số: 

1. Không Bên nào được đối xử kém thuận lợi hơn đối với sản phẩm số được tạo ra, sản xuất, xuất bản, ký hợp đồng, đặt hàng hoặc xuất hiện trên cở sở các nguyên tắc thương mại tại lãnh thổ của một Bên khác, hoặc đối với sản phẩm số mà tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất, nhà phát triển hoặc chủ sở hữu là pháp nhân của một Bên khác, so với các sản phẩm số tương tự khác. 4 2. Khoản 1 sẽ áp dụng trong trường hợp có mâu thuẫn với các quyền và nghĩa vụ trong Chương QQ. 3. Các Bên hiểu rằng Điều này sẽ không áp dụng cho các khoản trợ cấp hay tài trợ bởi một Bên bao gồm cả những khoản vay, bảo lãnh và bảo hiểm do Chính phủ hỗ trợ. 4. Điều này sẽ không áp dụng đối với phát thanh truyền hình. 



Điều 14.5: Khung quy định trong nước về giao dịch điện tử 

1. Các Bên sẽ phải duy trì một khung pháp lý điều chỉnh các giao dịch điện tử phù hợp với các nguyên tắc của Luật mẫu UNCITRAL về Thương mại điện tử 1996 hoặc Công ước Liên hợp quốc về sử dụng các liên lạc điện tử trong các hợp đồng quốc tế đã được thông qua tại New York vào 23/11/2005. 2. Mỗi Bên sẽ phải nỗ lực: (a) tránh tạo ra bất kỳ gánh nặng về quy định không cần thiết đối với các giao dịch điện tử; và (b) tạo thuận lợi cho việc góp ý kiến của các pháp nhân có liên quan đối với việc xây dựng khung pháp lý về giao dịch điện tử. 



Điều 14.6: Chứng thực điện tử và chữ ký điện tử 

1. Ngoại trừ những trường hợp có quy định khác trong luật, một Bên sẽ không được phủ nhận giá trị pháp lý của một chữ ký chỉ ví lý do chữ ký đó là ở dạng điện tử. 4 Để rõ ràng hơn, nếu như một sản phẩm số của một Bên không phải thành viên Hiệp định là một “sản phẩm số tương tự”, thì nó sẽ được coi là “sản phẩm số tương tự khác” như theo khoản 14.4.1 đã nêu. 2. Không bên nào được áp dụng hoặc duy trì các biện pháp đối với chứng thực điện tử mà sẽ: (a) ngăn cấm các Bên tham gia vào một giao dịch điện tử được cùng nhau quyết định các phương pháp chứng thực phù hợp với giao dịch đó; hoặc (b) ngăn cấm các Bên tham gia vào một giao dịch điện tử có cơ hội được chứng minh trước các cơ quan hành chính hoặc tư pháp rằng giao dịch của họ tuân thủ mọi yêu cầu pháp lý về chứng thực. 3. Không phụ thuộc vào các quy định tại khoản 2, một Bên có thể quy định đối với một hạng mục giao dịch cụ thể, phương pháp chứng thực phải đáp ứng những tiêu chuẩn về hiệu suất nhất định hoặc phải được công nhận bởi một cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật. 4. Các Bên sẽ khuyến khích việc sử dụng chứng thực điện tử tương thích. 



Điều 14.7: Bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến 

1. Các Bên thừa nhận tầm quan trọng của việc áp dụng và duy trì các biện pháp minh bạch và hiệu quả để bảo vệ người tiêu dùng khỏi các hành vi gian lận và lừa đảo thương mại như được đề cập ở Điều PP.7.2 (Bảo vệ người tiêu dùng) khi họ tham gia vào thương mại điện tử. 2. Mỗi Bên sẽ áp dụng hoặc duy trì các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng để ngăn cấm các hành vi gian lận và lừa đảo thương mại gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hại cho người tiêu dùng tham gia vào các hoạt động thương mại trực tuyến. 3. Các Bên thừa nhận tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng quốc gia hoặc các cơ quan liên quan khác đối với các hoạt động thương mại điện tử qua biên giới nhằm nâng cao lợi ích cho người tiêu dùng. Để thực hiện điều này, các Bên khẳng định nội dung hợp tác trong Điều PP.7.5 và Điều PP.7.6 (Bảo vệ người tiêu dùng) bao gồm cả hợp tác đối với các hoạt động thương mại trực tuyến. 



Điều 14.8: Bảo vệ thông tin cá nhân5 

1. Các Bên thừa nhận các lợi ích về kinh tế và xã hội của việc bảo vệ thông tin cá nhân của người dùng thương mại điện tử và đóng góp của điều này vào việc nâng cao sự tín nhiệm của người tiều dùng đối với thương mại điện tử. 2. Để thực hiện điều này, các Bên sẽ áp dụng hoặc duy trì khung pháp lý quy định việc bảo vệ thông tin cá nhân của người dùng thương mại điện tử. Trong quá trình xây dựng khung pháp lý về bảo vệ thông tin cá nhân, mỗi Bên nên tham khảo các nguyên tắc và hướng dẫn của các tổ chức quốc tế liên quan6 . 3. Mỗi Bên sẽ nỗ lực, trong phạm vi thẩm quyền của mình, sẽ áp dụng các thông lệ về không phân biệt đối xử đối với việc bảo vệ người dùng thương mại điện tử khỏi các hành vi xâm phạm thông tin cá nhân. 4. Mỗi Bên nên công bố các thông tin về các biện pháp bảo vệ thông tin tin cá nhân đối với người dùng thương mại điện tử, bao gồm các cách thức để: (a) các cá nhân có thể tìm các biện pháp khắc phục; và (b) các doanh nghiệp có thể tuân thủ các yêu cầu pháp lý; 5. Trên cơ sở thừa nhận rằng các Bên có thể đưa ra các biện pháp pháp lý khác nhau để bảo vệ thông tin các nhân, mỗi Bên sẽ khuyến khích việc xây dựng các cơ chế để thúc đẩy và tăng cường khả năng tương thích giữa các biện pháp đó. Các cơ chế này có thể bao gồm việc công nhận các kết quả đầu ra của quản lý, có thể là theo hình thức độc lập hoặc thông quả thỏa thuận lẫn nhau, hoặc qua các khuôn khổ quốc tế rộng hơn. Để thực hiện điều này, các Bên sẽ nỗ lực trong phạm vi thẩm quyền của mình để trao đổi thông tin về các cơ chế như vậy và tìm cách mở rộng các cơ chế đó hoặc các hình thức thỏa thuận thích hợp khác để tăng cường khả năng tương thích giữa các cơ chế đó. 5 Brunei và Việt Nam không bắt buộc phải áp dụng Điều này trước ngày mà các nước này bắt đầu thực thi khung pháp lý quy định việc bảo vệ dữ liệu cá nhân của người dùng thương mại điện tử 6 Để rõ ràng hơn, một Bên có thể tuân thủ theo nghĩa vụ của khoản này bằng cách áp dụng hoặc duy trì các biện pháp ví dụ như bảo mật toàn diện, các luật về bảo vệ thông tin hoặc dữ liệu cá nhân, các luật chuyên ngành về bảo mật, hoặc các luật quy định việc thực thi các cam kết tự nguyện của doanh nghiệp liên quan đến bảo mật. 



Điều 14.9: Thương mại không qua giấy tờ 

Mỗi Bên sẽ nỗ lực để: (a) công bố rộng tãi các văn bản quản lý về thương mại ở dạng điện tử; và (b) chấp nhận các văn bản quản lý về thương mại được nộp bằng phương thức điện tử với giá trị pháp lý tương đương với các văn bản bằng giấy. 



Điều 14.10: Các nguyên tắc về truy cập và sử dụng Internet cho Thương mại điện tử 

Tùy thuộc vào các chính sách, luật pháp và quy định được áp dụng, các Bên ghi nhận lợi ích của người tiêu dùng từ việc có các quyền như sau trên lãnh thổ của mình: (a) truy cập và sử dụng các dịch vụ và ứng dụng trên Internet theo chọn lựa của người tiêu dùng, trên cơ sở việc mạng lưới được quản trị một cách hợp lý7 ; (b) kết nối các thiết bị của người dùng cuối với Internet theo chọn lựa của người tiêu dùng, miễn là các thiết bị đó không gây tổn hại cho mạng lưới; và (b) truy cập các thông tin về các biện pháp quản trị mạng lưới từ nhà cung cấp kết nối Internet của người tiêu dùng. 



Điều 14.11: Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử 

1. Các Bên thừa nhận rằng mỗi Bên có thể có nhưng yêu cầu quản lý riêng đối với việc lưu chuyển thông tin bằng các phương tiện điện tử. 2. Mỗi Bên sẽ cho phép việc lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng các phương tiện điện tử, bao gồm cả thông tin cá nhân, nếu việc lưu chuyển này phục vụ cho hoạt động kinh doanh của một pháp nhân được bảo hộ; 3. Không có gì trong Điều này ngăn cản một Bên áp dụng hoặc duy trì các biện pháp không phù hợp với khoản 2 để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng, miễn là biện pháp đó: (a) không được áp dụng để nhằm mục đích tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện hoặc vô lý, hoặc cản trở thương mại một cách trá hình. (b) không áp đặt các hạn chế hơn mức cần thiết đối với các hoạt động lưu chuyển thông tin để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng. 



Điều 14.12: Chia sẻ cước kết nối Internet 

Các Bên ghi nhận rằng một nhà cung cấp có nhu cầu kết nối Internet quốc tế nên được phép đàm phán với các nhà cung cấp của một Bên khác trên cơ sở thương mại. Các hoạt động đàm phán này có thể bao gồm đàm phán về bồi thường cho việc thiếp lập kết nối, vận hành và bảo trì các thiết bị của các nhà cung cấp. 



Điều 14.13: Đặt hệ thống máy chủ 

1. Các Bên thừa nhận rằng mỗi Bên có thể có nhưng yêu cầu quản lý riêng đối với việc sử dụng các thiết bị máy tính, bao gồm cả các yêu cầu để đảm bảo an ninh và bảo mật thông tin liên lạc. Không bên nào được yêu cầu một pháp nhân được bảo hộ phải sử dụng hoặc đặt hệ thống máy chủ trên lãnh thổ của Bên đó như là một điều kiện để tiến hành hoạt động kinh doanh tại lãnh thổ đó. 2. Không có gì trong Điều này ngăn cản một Bên áp dụng hoặc duy trì các biện pháp không phù hợp với khoản 1 để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng, miễn là biện pháp đó: a) không được áp dụng để nhằm mục đích tạo ra sự phân biệt đối xử tùy tiện hoặc vô lý, hoặc cản trở thương mại một cách trá hình. 7 Các Bên thừa nhận rằng nếu một nhà cung cấp dịch vụ truy cập Internet cung cấp đến các thuê bao của mình một số nội dung nhất định trên cơ sở độc quyền thì sẽ được coi là không làm trái với nguyên tắc này. (b) không áp đặt các hạn chế hơn mức cần thiết đối với việc sử dụng và đặt hệ thống máy chủ để thực hiện mục tiêu chính sách công cộng chính đáng. 



Điều 14.14: Tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn 

8 1. Mỗi Bên sẽ áp dụng hoặc duy trì các biện pháp liên quan đến tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn mà: (a) yêu cầu các nhà cung cấp các tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn phải tạo điều kiện cho người nhận có khả năng ngăn việc tiếp tục phải nhận những tin nhắn đó. (b) yêu cầu phải có sự chấp thuận của người nhận, được quy định cụ thể trong luật pháp và các quy định của mỗi Bên, để nhận các tin nhắn điện tử thương mại; hoặc (c) nếu không thì phải quy định việc giảm thiểu tối đa các tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn. 2. Các Bên sẽ quy định việc đòi bồi thường đối với các nhà cung cấp tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn không tuân thủ theo các biện pháp được áp dụng hoặc duy trì như ở khoản 1. 3. Các Bên sẽ nỗ lực hợp tác trong các vụ việc thích hợp có liên quan đến quy định về tinh nhắn điện tử thương mại không mong muốn mà cả 2 Bên đều có chung mối quan tâm. 



Điều 14.15: Hợp tác Ghi nhận tính chất toàn cầu của thương mại điện tử, 

các Bên sẽ nỗ lực để: (a) cùng nhau hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua các trở ngại trong việc ứng dụng thương mại điện tử; (b) trao đổi thông tin và chia sẻ kinh nghiệp về quy định, chính sách, việc thực thi và tuân thủ liên quan đến thương mại điện tử, bao gồm: (i) bảo vệ thông tin cá nhân; (ii) bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến bao gồm cả những biện pháp khôi phục và nâng cao sự tín nhiệm của người tiêu dùng; (iii) tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn (iv) vấn đề an ninh trong các liên lạc điện tử; (v) chứng thực; và (vi) chính phủ điện tử (c) trao đổi thông tin và chia sẻ quan điểm về việc tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ trực tuyến của người tiêu dùng giữa các Bên; (d) tích cực tham gia vào các diễn đàn khu vực và đa phương để thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử; và (e) khuyến khích khối tư nhân phát triển các biện pháp về quy định nội bộ nhằm thúc đẩy thương mại điện tử, bao gồm các quy tắc ứng xử, hợp đồng mẫu, hướng dẫn và cơ chế thực thi. 



Điều 14.16: Hợp tác trong các vấn đề an ninh mạng: 

Các Bên ghi nhận tầm quan trọng của việc: (a) nâng cao năng lực của các cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm về đối phó với sự cố an toàn máy tính; và (b) thông qua các cơ chế hợp tác hiện có để phối hợp xác định và giảm thiểu các hành vi xâm nhập nguy hiểm hoặc phổ biến mã độc hại gây ảnh hưởng đến mạng lưới điện tử của các Bên. 8 Brunei Darussalam không bắt buộc phải áp dụng Điều này trước ngày nước này bắt đầu thực thi khung pháp lý về tin nhắn điện tử thương mại không mong muốn. 



Điều 14.17. Mã nguồn: 

1. Không Bên nào được yều cầu việc chuyển giao hoặc truy cập đến mã nguồn của phần mềm được sở hữu bởi một pháp nhân của một Bên khác như là một điều kiện để phần mềm hoặc các sản phẩm sử dụng phần mềm đó được nhập khẩu, phân phối, bán hoặc sử dụng trong lãnh thổ của Bên đó. 2. Trong phạm vi của Điều này, phần mềm được nói đến khoản 1 sẽ chỉ giới hạn trong các phần mềm hoặc các sản phẩm dùng các phần mềm đó trên thị trường đại chúng, và không bao gồm các phần mềm được sử dụng cho hạ tầng trọng yếu. 3. Không có gì trong Điều này sẽ ngăn cản: (a) việc cam kết hoặc thực thi các điều khoản và điều kiện liên quan đến việc cung cấp mã nguồn trong các hợp đồng được đàm phán trên cơ sở thương mại; hoặc (b) một Bên yêu cầu sửa đổi mã nguồn của phần mềm cần thiết để phần mềm đó tuân thủ với các luật và quy định không phù hợp với Hiệp định này. 4. Điều này sẽ không được hiểu là có tác động đến các yêu cầu liên quan đến các đăng ký sáng chế hoặc các bằng sáng chế đã được cấp, bao gồm cả các lệnh do cơ quan tư pháp ban hành liên quan đến tranh chấp sáng chế, trên cơ sở phụ thuộc vào quy định pháp luật và thông lệ của một Bên về các biện pháp chống lại hành vi tiết lộ trái phép. Điều 14.18: Giải quyết tranh chấp 1. Đối với các biện pháp hiện hành, Malaysia sẽ không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo như Chương BBB (Giải quyết tranh chấp) đối với các nghĩa vụ của Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số) và Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử) trong khoảng thời gian 3 năm kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực đối với Malaysia. 2. Đối với các biện pháp hiện hành, Việt Nam sẽ không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo như Chương BBB (Giải quyết tranh chấp) đối với các nghĩa vụ của Điều 14.4 (Không phân biệt đối xử với các sản phẩm số), Điều 14.11 (Lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử) và Điề


Áp dụng pháp luật nuớc ngoài tại Việt Nam


Áp dụng pháp luật nuớc ngoài tại  Việt Nam





Để điều chỉnh và giải quyết các quan hệ dân sự quốc tế, một trong các cách phổ biến là quốc gia xây dựng các quy phạm xung đột trong hệ thống pháp luật của mình và trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Việc áp dụng các quy phạm xung đột cũng đồng nghĩa với việc quốc gia đó thừa nhận và cho phép áp dụng luật nước ngoài và tất nhiên đây là một đòi hỏi thực tế khách quan đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mở rộng quan hệ đa phương, đa diện của quốc gia với nước ngoài. Thực tiễn tư pháp quốc tế đã chứng tỏ rằng, ở những mức độ và với những điều kiện khác nhau, tất cả các nước đều thừa nhận và cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài, việc áp dụng pháp luật nước ngoài là không tránh khỏi, là đặc thù của tư pháp quốc tế. Ví dụ: Hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Pháp. Sau hai mươi năm chung sống tại Pháp, họ quyết định đưa cả gia đình trở về Việt Nam sinh sống, được một năm sau thì họ nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án địa phương có thẩm quyền nơi cư trú tại Việt Nam. Để giải quyết được việc này, chỉ khi Tòa án có thẩm quyền đó công nhận việc kết hôn của hai công dân Việt Nam ở Pháp trước đây là hợp pháp và tài sản của họ ở Pháp là hợp pháp.

Như vậy, để đảm bảo quyền lợi của cặp vợ chồng trên cũng như lợi ích của con cái họ, Tòa án Việt Nam không thể giải quyết nếu không tính tới việc trong chừng mực nào đó cần thiết phải áp dụng pháp luật của Pháp. Khi áp dụng pháp luật nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ các điều kiện, cơ sở và thể thức pháp lý nhất định. Mỗi quốc gia các điều kiện, cơ sở và thể thức pháp lý về áp dụng luật nước ngoài là khác nhau. Tuy nhiên, phạm vi cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài phải được xác định trên cơ sở chủ quyền quốc gia và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia; đồng thời bảo đảm hiệu quả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội và pháp luật của nước mình.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về áp dụng pháp luật nước ngoài

Vấn đề lựa chọn pháp luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Chẳng hạn, tại Điều 122 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, có quy định về việc Áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, như sau:

1. Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

2. Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 2 của Luật này.

Trong trường hợp pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.

3. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có dẫn chiếu về việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật nước ngoài được áp dụng.”

Tại Điều 4[1] Luật hàng không dân dụng năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Điều 5[2] Luật Thương mại năm 2005; khoản 3[3] Điều 759 Bộ luật Dân sự năm 2005 đều quy định về vấn đề áp dụng pháp luật dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế. Theo các văn bản vừa nêu, pháp luật nước ngoài được áp dụng tại Việt Nam dựa trên các cơ sở sau:

Một là, có quy phạm xung đột trong Điều ước quốc tế quy định;

Hai là, quy phạm xung đột trong văn bản pháp luật quốc gia quy định;

Ba là, có sự thỏa thuận lựa chọn của các bên đương sự.

Như vậy, pháp luật nước ngoài không chỉ được áp dụng khi có sự dẫn chiếu của quy phạm xung đột ghi nhận trong các điều ước quốc tế mà còn được áp dụng khi có sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng về việc áp dụng pháp luật nước ngoài.

Vấn đề quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên chủ thể được bắt nguồn từ nguyên tắc tự do về mặt ý chí, cụ thể hơn, đó là tự do giao kết hợp đồng và tự do xác định nội dung hợp đồng – Đây là “nguyên tắc vàng” của luật hợp đồng. Trong quan hệ hợp đồng, tự do ý chí là vấn đề trọng yếu của hợp đồng và về nguyên tắc, ý chí của các bên tham gia giao kết hợp đồng mang tính quyết định. Từ những nền tảng quan trọng đó, các bên chủ thể tham gia hợp đồng không những được tự do thỏa thuận xác lập, thực hiện hợp đồng trong khuôn khổ quy định của pháp luật mà còn được tự do thỏa thuận lựa chọn pháp luật của một quốc gia nào đó để áp dụng cho hợp đồng. Ngoài ra, việc quy định các bên chủ thể tham gia quan hệ có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng cũng thể hiện một xu thế phát triển tất yếu trong lĩnh vực Tư pháp quốc tế là các nước đối xử với luật nước ngoài ngang tầm quan trọng với luật trong nước nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các quan hệ dân sự, thương mại quốc tế, góp phần thực hiện chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia. Phù hợp với xu thế chung của thời đại, pháp luật Việt Nam cũng ngày càng quan tâm đến quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên chủ thể tham gia giao dịch dân sự, thương mại quốc tế. Quyền lựa chọn pháp luật áp dụng được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật. Điển hình như Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thỏa thuận trong hợp đồng, nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định này đã cho thấy các bên trong hợp đồng hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận lựa chọn pháp luật nước ngoài để áp dụng cho hợp đồng, dĩ nhiên, sự lựa chọn đó phải nằm trong khuôn khổ các quy định của pháp luật.

Trong lĩnh vực quan hệ thương mại có yếu tố nước ngoài, quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các bên chủ thể là rất quan trọng. Luật Thương mại năm 2005 có quy định “Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.

Trong lĩnh vực quan hệ hàng hải có yếu tố nước ngoài, Bộ luật hàng hải năm 2005 đã khẳng định quyền lựa chọn pháp luật của các bên chủ thể tại khoản 2, khoản 3 Điều 4. Tại Điều 3[4] Bộ luật Hàng hải năm 2015 (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2017, thay thế cho Bộ luật Hàng hải năm 2005) có quy định tương tự. Từ đó, có thể nhận thấy rằng, luật nước ngoài được áp dụng trong hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, do Bộ luật hàng hải quy định, tức là trên cơ sở quy phạm pháp luật xung đột trong Bộ luật này hoặc trong Điều ước quốc tế được áp dụng quy định áp dụng pháp luật nước ngoài. Ví dụ, khoản 2 Điều 3 quy định: “Trong trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tổn thất chung thì áp dụng pháp luật nơi tàu biển ghé vào ngay sau khi xảy ra tổn thất chung đó”.

Trường hợp thứ hai, do có thỏa thuận trong hợp đồng, tức là các bên chủ thể trong hợp đồng hàng hải thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài. Đây là quy định mà Bộ luật Hàng hải cho phép các bên chủ thể trong hợp đồng hàng hải có quyền thỏa thuận lựa chọn pháp luật nước ngoài để áp dụng. Quy định này phù hợp với thực tiễn quốc tế hiện nay và tạo điều kiện một cách thuận lợi nhất cho các bên chủ thể thiết lập quan hệ hợp đồng.

Các quy định đó cũng như các quy định khác trong các văn bản pháp luật Việt Nam về quyền lựa chọn pháp luật áp dụng của các cá nhân, tổ chức còn cho thấy rằng:

Một là, các bên tham gia quan hệ có quyền lựa chọn pháp luật nước ngoài hoặc tập quán quốc tế để áp dụng, nhưng không có quy định các bên có quyền lựa chọn điều ước quốc tế để áp dụng, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ thương mại quốc tế. Đây là một điểm còn hạn chế của pháp luật Việt Nam. Do vậy, về nguyên tắc, theo pháp luật Việt Nam các bên không có quyền lựa chọn điều ước quốc tế liên quan đến quan hệ giữa các bên để áp dụng. Chẳng hạn, trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một Công ước điển hình, thể hiện sự thống nhất cao, phù hợp với thực tiễn điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế. Nhưng theo các quy định của pháp luật Việt Nam thì các bên cũng không có quyền trực tiếp lựa chọn Công ước này.

Tuy nhiên, các bên tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vẫn có thể gián tiếp lựa chọn Công ước này thông qua việc lựa chọn pháp luật nước ngoài và pháp luật nước ngoài đó có quy định (quy phạm xung đột) cho phép các bên có quyền lựa chọn pháp luật áp dụng, trong đó có cả lựa chọn điều ước quốc tế để áp dụng. Bởi vì, pháp luật Việt Nam có quy định dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài là áp dụng cả quy phạm thực chất và cả quy phạm xung đột. Khoản 3 Điều 759 Bộ luật Dân sự năm 2005 đều có quy định tương tự về vấn đề này. Vì thế, nếu pháp luật nước ngoài được áp dụng đó không dẫn chiếu tới pháp luật Việt Nam thì có thể dẫn chiếu tới pháp luật nước ngoài khác hoặc tới Điều ước quốc tế. Việc lựa chọn Công ước Viên năm 1980[5] theo cách đó là cần thiết đối với các bên chủ thể, bởi vì, trong xu thế toàn cầu hóa các quan hệ kinh tế quốc tế và chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay, việc áp dụng công ước Viên năm 1980 để điều chỉnh các quan hệ hợp động mua bán hàng hóa quốc tế là điều tất yếu mà các thương nhân Việt Nam phải tính đến khi đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài.

Hai là, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể các bên tham gia quan hệ lựa chọn pháp luật áp dụng đối với toàn bộ hay một phần quan hệ giữa các bên, và cũng không quy định về thời điểm lựa chọn pháp luật, đặc biệt là không có quy định các bên có quyền sửa đổi hoặc thay đổi sự lựa chọn pháp luật áp dụng. Đây cũng là điểm hạn chế của pháp luật Việt Nam, nó gây những khó khăn trong việc thực hiện pháp luật trong thực tiễn.

2. Áp dụng pháp luật nước ngoài điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài ở tòa án và trọng tài của Việt Nam.

Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại đang là vấn đề nổi bật của kinh tế thế giới hiện nay. Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau càng cao giữa các quốc gia và khu vực. Điều đó cũng đồng nghĩa rằng việc áp dụng pháp luật nước ngoài là một nhu cầu khách quan không thể tránh khỏi ở tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự và thúc đẩy giao lưu dân sự phát triển. Thời gian qua, cùng với sự phát triển của các giao lưu dân sự, thương mại, đầu tư, lao động,... giữa nước ta với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước trong khu vực, số lượng các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài được các tòa án Việt Nam thụ lý giải quyết cũng gia tăng.

Mặc dù việc áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết các vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài là một trong những hoạt động diễn ra từ rất lâu và rất phổ biến trên thế giới, và mặc dù pháp luật Việt Nam đã có rất nhiều quy định cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết những vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp nhất định với những nguyên tắc nhất định nhưng đây vẫn là một hoạt động hoàn toàn mới mẻ đối với các tòa án. Mới mẻ ở đây không phải vì thực tế ở Việt Nam không có vụ án nào đòi hỏi phải áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết, và chúng ta cũng không thể nói rằng trong lĩnh vực này, các quy định của pháp luật đã đi trước thực tiễn, mà thực tế là việc các tòa án, trọng tài Việt Nam áp dụng pháp luật nước ngoài trong quá trình giải quyết một vụ án là rất hãn hữu, do đó, việc tích lũy kinh nghiệm hoạt động áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài là hoàn toàn chưa có.

Trong lĩnh vực trọng tài, Điều 14 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, có quy định về Luật áp dụng giải quyết tranh chấp, như sau:

“1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp.

2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.

3. Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.”. Thực tế, trọng tài Việt Nam đã dựa vào nhiều yếu tố của tranh chấp để xác định luật áp dụng cho hợp đồng. Ví dụ, vụ tranh chấp tranh chấp lớn về ưu đãi thuế theo hợp đồng phân chia sản phẩm liên quan đến một mỏ dầu khí ngoài khơi Việt Nam, mà (phía Việt Nam) PVN là bị đơn trong vụ tranh chấp. Theo lập luận của các nguyên đơn là họ ngầm định được hưởng một số ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, mặc dù các ưu đãi đó chưa từng được bàn đến trong các vòng đàm phán và cũng không được quy định trong hợp đồng phân chia sản phẩm hay giấy chứng nhận đầu tư có liên quan.

Để giải quyết vấn đề này, PVN và nguyên đơn đã đưa vụ việc ra trọng tài quốc tế. Một Hội đồng Trọng tài quốc tế được thành lập theo Quy tắc Tố tụng trọng tài của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) gồm các trọng tài viên hàng đầu thế giới. Trong quá trình cân nhắc vấn đề để đưa ra phán quyết, Hội đồng Trọng tài nhất trí với quan điểm của PVN là luật Việt Nam được áp dụng, đưa ra “một cách tiếp cận vấn đề linh động và đa dạng, phù hợp với quyền lợi thương mại hợp lý của Chính phủ Việt Nam và các công ty dầu khí quốc tế”[6].

Để hoạt động trọng tài thực sự hiệu quả thì luôn cần đến vai trò hỗ trợ và giám sát của Tòa án. Các quy định của Luật TTTM hiện nay về cơ bản đã đáp ứng được nội dung này, tuy từ thực tiễn cho thấy vẫn còn những quy định chưa phù hợp, còn những cách hiểu khác nhau làm phát sinh vướng mắc khi áp dụng Luật TTTM về vai trò của Tòa án đối với trọng tài như: việc xem xét lại quyết định của Tòa án hủy hay không hủy phán quyết trọng tài theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam; về các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài… Trong khi đó, vấn đề bức xúc nhất hiện nay là tình trạng hủy phán quyết trọng tài của Tòa án đã và đang gây tâm lý lo ngại cho người dân và doanh nghiệp khi đưa ra quyết định lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài…

Việc áp dụng pháp luật nước ngoài ở các Toà án nước ta hiện nay đang là vấn đề có nhiều tranh cãi. Vấn đề đặt ra là việc Toà án nhân dân Việt Nam không áp dụng pháp luật nước ngoài khi có yêu cầu phải áp dụng thì có phải là Toà án đó đã vi phạm pháp luật không? Có ý kiến cho rằng, đối với những trường hợp mà quy phạm xung đột pháp luật cho phép các bên chọn pháp luật nước này hay nước kia để điều chỉnh quan hệ của họ và họ đã chọn pháp luật nước ngoài nhưng khi toà án áp dụng pháp luật Việt Nam, họ không có phản ứng gì thì toà án không vi phạm pháp luật. Ở đây, chúng ta coi như các đương sự từ bỏ pháp luật nước ngoài và ngầm chọn pháp luật Việt Nam.

Theo quan điểm của tác giả, việc toà án không áp dụng pháp luật nước ngoài khi quy phạm xung đột dẫn chiếu tới là toà án đã vi phạm pháp luật. Như đã phân tích ở trên, việc một quốc gia có cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của quốc gia đó, xuất phát từ yêu cầu của mỗi quốc gia trong quá trình bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như pháp nhân của nước mình, của chính bản thân mình trong giao lưu dân sự quốc tế. Nhưng khi việc áp dụng pháp luật nước ngoài đã được ghi nhận trong pháp luật quốc gia thì quốc gia đó cần phải tuân thủ những quy định đó. Không thể tự mình xây dựng luật rồi lại tự mình vi phạm luật. Trong thời đại ngày nay, khi mà chúng ta đang tiến tới xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì đây là điều cần phải khắc phục kịp thời.

3. Lợi ích của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên 1980[7]

3.1. Lợi ích về kinh tế

Việt Nam đang trên con đường hội nhập một cách chủ động và tích cực vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh các hoạt động thương mại quốc tế, trong đó thương mại hàng hóa vẫn là hoạt động sôi động nhất là động lực và từ lâu đã đóng vai trò quan trọng cho tăng trưởng kinh tế trong nước, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO. Do đó, việc xác định một nguồn luật thống nhất điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ mang lại lợi ích kinh tế không nhỏ cho Việt Nam vì hầu hết các cường quốc thương mại trên thế giới đều đã gia nhập Công ước Viên, trong đó có rất nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của Việt Nam, như: Pháp, Mỹ, Italia, Liên bang Nga, Canada, Đức, Hà Lan, Australia, Trung Quốc…Các công ty, doanh nghiệp của các nước này đã áp dụng và đã quen áp dụng Công ước Viên cho các hợp đồng mua bán hàng hoá ký với các đối tác nước ngoài.

Có thể khẳng định rằng, CISG mang lại cho Việt Nam ba lợi ích kinh tế lớn sau:

Thứ nhất, đơn giản hóa, giảm chi phí luật trong quá trình thương mại quốc tế.

Như chúng ta đã biết, càng ít nhân tố gây trở ngại nền kinh tế càng tự do thì thị trường càng hoạt động hiệu quả và có tính cạnh tranh cao. Trong đó nhân tố gây trở ngại lớn nhất cho giao dịch thương mại quốc tế, đăc biệt cho những nước đang phát triển như Việt Nam, chính là môi trường luật nước ngoài. Hơn nữa trong đàm phán ký kết hợp đồng giữa Việt Nam và các nước phát triển thì luật được chọn để điều chỉnh thường là luật của các nước phát triển vì các doanh nghiệp Việt Nam có ít thế và lực trong đàm phán lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Điều này làm doanh nghiệp trong nước khó đánh giá được kết quả kinh doanh vì môi trường luật của nước ngoài thường không ổn định và chứa đựng nhiều rủi ro.

Việc áp dụng CISG như một nền tảng luật cho các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ giảm sự bất ổn và các chi phí pháp luật liên quan. CISG cung cấp một nguồn luật mà các thương gia, thường là những người không chuyên về luật, dễ dàng hiểu rõ vì CISG được soạn thảo không phải bằng ngôn ngữ chuyên ngành luật. Như vậy sẽ giảm chi phí nghiên cứu tìm hiểu luật trước khi ký hợp đồng hay có bất kỳ tranh chấp nào xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng vì đã có một nguồn luật thống nhất.

Hơn nữa các doanh nghiệp trong nước sẽ ít phải áp dụng Luật nước ngoài, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội bảo vệ mình vì việc tham dự một phiên tòa tại nước ngoài, sử dụng nguồn luật nước ngoài là bất lợi lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những đối tượng ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ pháp lý. Những lợi ích do một văn bản thống nhất luật như Công ước Viên đem lại cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ càng lớn, thì chúng ta lại càng khẳng định những lợi ích mà Công ước này đem lại cho Việt Nam, một quốc gia ở đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 80% số lượng các doanh nghiệp.

Thứ hai, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có cơ hội cạnh tranh công bằng trên thị trường quốc tế.

Nếu các bên làm hợp đồng trên một cơ sở luật chung thì sẽ dễ dàng đánh giá các lựa chọn, chào giá khác nhau trên thị trường về rủi ro, độ chặt và nghĩa vụ trong hợp đồng. Điều này làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, mang lại lợi ích về mặt kinh tế không nhỏ.

Thứ ba, tăng cường hoạt động trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới

Với tính chất là một văn bản thống nhất luật, Công ước Viên đã thống nhất hoá được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Trong quá trình tiến hành trao đổi hàng hóa với các đối tác nước ngoài, việc áp dụng các văn bản luật quốc gia sẽ gây nhiều khó khăn, bất lợi, làm phát sinh những xung đột pháp luật với các nước khác và khi giải quyết tranh chấp cũng khó khăn. Khi gia nhập Công ước Viên, Việt Nam sẽ thống nhất nguồn luật áp dụng trong mua bán hàng hóa quốc tế với các nước đối tác khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Khi đó, các thương nhân Việt Nam và thương nhân nước ngoài sẽ cùng chung tiếng nói, cùng chung một cơ sở pháp lý và các mối quan hệ mua bán hàng hóa sẽ gắn chặt hơn, lâu bền hơn và rộng mở hơn nữa, tránh được các tranh chấp phát sinh.

3.2. Lợi ích về pháp lý

Ngoài những lợi ích về mặt kinh tế, việc tham gia Công ước Viên có thể đem lại những lợi ích rõ ràng cho Việt Nam về mặt pháp lý.

Thứ nhất, với nền kinh tế mới phát triển và mở cửa quốc tế chưa lâu, hệ thống quy phạm pháp luật của Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế còn rất nhiều thiếu sót và cần nhiều nguồn luật quốc tế bổ sung. Quan trọng hơn, như trên đã phân tích, các quy định này hầu hết được soạn thảo để điều chỉnh quan hệ dân sự trong nước, chứ không có những quy định cụ thể, riêng biệt cho giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế. Việc tham gia và áp dụng CISG sẽ giúp hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế theo hướng ổn định, rõ ràng, công bằng hơn và phù hợp với xu thế chung của luật pháp quốc tế.

Thứ hai, là một hệ thống Dân luật (Civil Law), cách tiếp cận của hệ thống luật Việt Nam khá trùng khớp với Công ước Viên, vì thế khi tham gia CISG Việt Nam sẽ không gặp phần lớn những khó khăn về tìm hiểu và áp dụng án lệ như trường hợp của các nước theo hệ thống Thông luật (Common Law), cũng như sẽ gặp ít khó khăn hơn về việc giải thích ngôn ngữ trong Công ước.

Thứ ba, việc CISG trở thành một phần luật nội địa sẽ tạo điều kiên cho việc xử án, xử trọng tài tại Việt Nam trở nên thống nhất và dễ dàng hơn, bởi chỉ có một nguồn luật được giải thích và áp dụng. Các doanh nhân, trọng tài viên, thẩm phán đều không cần xem xét, nghiên cứu và cân nhắc bất kỳ nguồn luật nước ngoài nào khác ngoài CISG. Việc giải thích và áp dụng CISG dễ dàng hơn rất nhiều việc viện dẫn đến một hệ thống luật địa phương, bởi vì việc diễn giải Công ước được hỗ trợ bởi Các nguyên tắc UNIDROIT, PECL (theo cơ chế “bổ sung luật”), các Bình luận Chính thức của Ban Tư vấn CISG,[8] các án lệ của CISG đăng tải trên hệ thống dữ liệu UNILEX, cũng như hàng ngàn bài viết học giả được đăng tải trên trang web chính thức của CISG (PACE).

Thứ tư, ngay cả khi Việt Nam không tham gia CISG, có nhiều trường hợp CISG vẫn sẽ được áp dụng trong thương mại quốc tế có một bên Việt Nam tham gia, cụ thể là: i) Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến luật một nước là thành viên CISG;[9] ii) Nếu các bên tham gia giao dịch cùng lựa chọn áp dụng CISG; iii) Khi trong hợp đồng các bên không lựa chọn luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp (tòa án hoặc trọng tài) lựa chọn CISG để giải quyết tranh chấp.

3.3. Các lợi ích khác

Ngoài lợi ích về mặt kinh tế và pháp lý nói trên, việc Việt Nam tham gia Công ước Viên cũng sẽ có ý nghĩa lớn về mặt chính trị và ngoại giao, vì CISG, vốn được xây dựng trên cơ sở hài hòa hóa lợi ích của các nước XHCN và các nước tư bản, các nước phương Đông và phương Tây, các nước đã phát triển và các nước đang phát triển, được đánh giá là một Công ước rất thành công và có ảnh hưởng bao trùm trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế. Với mục tiêu phấn đấu trở thành đầu tàu của khối ASEAN trong việc là cầu nối phát triển quan hệ ASEAN với các nước, tổ chức chính phủ khác trên thế giới, việc Việt Nam tham gia Công ước Viên sẽ đánh dấu vai trò to lớn hơn nữa của Việt Nam trong việc thúc đẩy phát triển quan hệ quốc tế nói chung.

4. Một số bất lợi của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên 1980

4.1. Bất lợi về kinh tế

Những bất lợi về mặt kinh tế do CISG mang lại không đáng kể, các quốc gia thành viên không có nghĩa vụ đóng góp về tài chính, không phải thành lập một cơ quan riêng để thực thi Công ước, cũng không có bất kỳ nghĩa vụ báo cáo định kỳ nào. Nhìn chung, các nguyên tắc của Công ước cũng phù hợp với các nguyên tắc chung của pháp luật hợp đồng Việt Nam. Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005 đã được ban hành trên cơ sở tham khảo các văn bản luật quốc tế, trong đó có Công ước Viên, và vì vậy, nhìn chung là tương thích với các nguyên tắc của Công ước này. Với lý do đó, khi gia nhập Công ước Viên, Việt Nam không phải sửa đổi pháp luật hiện hành và không phát sinh chi phí cho việc sửa đổi luật.

Tuy nhiên, trong giao dịch buôn bán quốc tế, mỗi ngành mỗi lĩnh vực đều có những điều khoản hợp đồng chuẩn đặc thù ví dụ mua bán dầu, gạo, hoa quả tươi… và các doanh nghiệp không muốn từ bỏ những điều khoản đã được sử dụng rộng rãi và quen thuộc này. Do đó cho dù Việt Nam có gia nhập CISG thì Công ước này cũng không thể điều chỉnh tất cả các hợp đồng mua bán quốc tế trong đó có Việt Nam tham gia. Hơn nữa việc áp dụng CISG cũng còn hạn chế trong quan hệ buôn bán giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp của các nước chưa tham gia công ước.

4.2. Bất lợi về pháp lý

Khi tham gia Công ước Viên, Việt Nam có thể gặp một số trở ngại về pháp lý sau:

Thứ nhất, nội dung Công ước Viên còn khá mới mẻ đối với hệ thống xây dựng pháp luật, tư pháp và trọng tài ở Việt Nam, vì vậy các bên Việt Nam (doanh nghiệp, tòa án, trọng tài) cần có nhiều thời gian hơn để nghiên cứu, hiểu rõ khi áp dụng CISG trong các quan hệ giao dịch thương mại quốc tế. Hiện nay tại Việt Nam có rất ít nghiên cứu chuyên sâu về nội dung CISG cũng như thực tiễn áp dụng CISG trên thế giới để áp dụng tại Việt Nam. Điều này khiến việc diễn giải, áp dụng CISG trong thực tế của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn.

Thứ hai, trong hệ thống giáo dục pháp luật của Việt Nam nói chung (ngoại trừ một số rất ít trường đại học chuyên ngành luật, hợp tác với nước ngoài) cũng chưa có nội dung nào giới thiệu, đào tạo chuyên sâu về CISG. Các doanh nghiệp, nhà thực hành luật Việt Nam cũng chưa có diễn đàn nào riêng để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm về CISG như tại nhiều nước khác trên thế giới. Điều này cũng sẽ làm giảm sức mạnh, tiếng nói của các doanh nghiệp Việt Nam, và khả năng xét xử tòa án, trọng tài tại Việt Nam khi có tranh chấp liên quan đến CISG.

Để kết thúc bài viết này, tác giả xin được trích dẫn lời phát biểu của ông Trần Hữu Huỳnh – Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, tại buổi Tọa đàm“Kỹ năng và Kinh nghiệp Trọng tài Thương mại Quốc tế” được Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam đã tổ chức vào ngày 16/12/2015 tại Hà Nội: “Việt Nam có thể coi là một quốc gia hội nhập bậc nhất ở Đông Nam Á, ngoài việc là thành viên của WTO, chúng ta còn ký kết các Hiệp định Thương mại tự do, mà gần đây nhất là Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương TPP. Cách đây vài ngày, Chủ tịch nước đã ký tham gia Công ước quốc tế về mua bán hàng hóa năm 1980 (CISG). Là một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế, chúng ta phải tham gia vào Luật chơi chung của Quốc tế. Việc phát triển Trọng tài thương mại là hệ quả tất yếu của quá trình hội nhập này.”

Phạm Thị Hồng Đào

[1] Điều 4. Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật1. Pháp luật của quốc gia đăng ký quốc tịch tàu bay được áp dụng đối với quan hệ xã hội phát sinh trong tàu bay đang bay và áp dụng để xác định các quyền đối với tàu bay.2. Pháp luật của quốc gia nơi ký kết hợp đồng liên quan đến các quyền đối với tàu bay được áp dụng để xác định hình thức của hợp đồng.3. Pháp luật của quốc gia nơi thực hiện việc cứu hộ hoặc giữ gìn tàu bay được áp dụng đối với việc trả tiền công cứu hộ hoặc giữ gìn tàu bay đó.4. Pháp luật của quốc gia nơi xảy ra tai nạn do tàu bay va chạm hoặc gây cản trở nhau, do tàu bay đang bay gây thiệt hại cho người thứ ba ở mặt đất được áp dụng đối với việc bồi thường thiệt hại.[2] Điều 5. Áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế
1. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.2. Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.[3] 3. Trong trường hợp Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên dẫn chiếu đến việc áp dụng pháp luật nước ngoài thì pháp luật của nước đó được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trường hợp pháp luật nước đó dẫn chiếu trở lại pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì áp dụng pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Pháp luật nước ngoài cũng được áp dụng trong trường hợp các bên có thoả thuận trong hợp đồng, nếu sự thoả thuận đó không trái với quy định của Bộ luật này và các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[4] Điều 3. Nguyên tắc áp dụng pháp luật khi có xung đột pháp luật
1. Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến quyền sở hữu tài sản trên tàu biển, hợp đồng thuê tàu biển, hợp đồng thuê thuyền viên, hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý, phân chia tiền công cứu hộ giữa chủ tàu cứu hộ và thuyền bộ của tàu cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm ở vùng biển quốc tế, các vụ việc xảy ra trên tàu biển khi tàu đang ở vùng biển quốc tế thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch.2. Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tổn thất chung thì áp dụng pháp luật nơi tàu biển kết thúc hành trình ngay sau khi xảy ra tổn thất chung đó.3. Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va, tiền công cứu hộ, trục vớt tài sản chìm đắm xảy ra tại nội thủy hoặc lãnh hải của quốc gia nào thì áp dụng pháp luật của quốc gia đó.Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến tai nạn đâm va hoặc cứu hộ xảy ra ở vùng biển quốc tế thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà Trọng tài hoặc Tòa án của quốc gia đầu tiên đã thụ lý giải quyết tranh chấp.Trường hợp tai nạn đâm va xảy ra ở vùng biển quốc tế giữa các tàu biển có cùng quốc tịch thì áp dụng pháp luật của quốc gia mà tàu biển mang cờ quốc tịch.4. Trường hợp quan hệ pháp luật liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa thì áp dụng pháp luật của quốc gia nơi hàng hóa được trả theo hợp đồng.[5] Công ước Viên về Hợp đồng Mua bán Hàng hoá Quốc tế của Liên hợp quốc được thông qua năm 1980 (viết tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the International Sale of Goods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Công ước này áp dụng đối với các hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán có trụ sở thương mại tại các nước là thành viên của Công ước, song Công ước có sự nhất quán trong việc nhấn mạnh yếu tố tự do của hợp đồng, theo đó các bên có quyền quy định các điều khoản cụ thể theo thỏa thuận.Ngày 18/12/2015 vừa qua, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc (“CISG”) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này. Điều đáng chú ý là Việt Nam đã đi trước nhiều nước ASEAN khác để trở thành thành viên thứ 2 sau Singapore gia nhập Công ước quan trọng này. Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 1/1/2017.
[6] http://tinnhanhchungkhoan.vn/phap-luat/vu-kien-pvn-va-xu-huong-moi-trong-xu-ly-tranh-chap-thuong-mai-122976.html
[7] http://www.trungtamwto.vn/node/913
[8] Ban tư vấn CISG (CISG-AC) được thành lập năm 2001 do nhu cầu ngày càng tăng của việc làm rõ các vấn đề tranh cãi liên quan đến CISG. CISG-AC đóng góp vào việc hướng dẫn giải thích Công ước Viên thông qua các Bình luận Chính thức. Hiện đã có 09 Bình luận Chính thức được công bố.Xem them tại <http://www.cisgac.com/> truy cập ngày 10/8/2009.
[9] Điểm b khoản 1 Điều 1 CISG: “Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.”