Công ty Luật Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 334 Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Điện thoại: 0911666884- 0924.488.884.

Công ty Đấu giá Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 07 Khúc Hạo, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng

Kim Trọng Hùng Group Kính chào Các bạn

Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng. Website:luatkimtronghung.com.

Luật sư Vũ Trọng Kim-CT Hội cựu TNXP

Ủy viên trung ương ĐCS khóa VIII, IX, X, XI. Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XIII, XIV.

Luật sư Nguyễn Cao Hùng-Giảng viên thỉnh giảng Luật Đầu tư

Tác giả sách: 200 câu hỏi đáp về Khiếu nại, tố cáo. Đồng tác giả sách: Bình luận KH BLTTHS 2015-XNB CAND

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2018

VỤ ÁN MOBIFONE-AVG

VỤ ÁN MOBIFONE MUA AVG

Ngày 25/12/2015, MobiFone ký hợp đồng với cổ đông AVG nhận chuyển nhượng 95% cổ phần AVG với tổng giá trị khoảng 8.889 tỉ đồng. Trong vòng 22 ngày sau, MobiFone đã thanh toán khoản tiền gần 8.445 tỉ đồng cho AVG.
Cuối năm 2015, MobiFone công bố việc mua lại AVG nhưng giá trị của thương vụ này không được tiết lộ. Tháng 11/2016, lần đầu tiên MobiFone công bố giá trị thương vụ này là 8.889 tỷ đồng. Việc thanh tra toàn diện việc MobiFone mua 95% cổ phần của Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu (AVG) đã bắt đầu từ tháng 9/2016.

A. TÓM TẮT VỤ ÁN MOBIFONE-AVG
Thương vụ xuất phát từ tháng 10/2014, khi AVG có văn bản gửi Bộ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông (4T), lúc đó là BT Nguyễn Bắc Son, về việc AVG chuyển nhượng cổ phần cho NĐT nước ngoài để trở thành cổ đông chiến lược, giá mua bằng 7 lần giá vốn, tức vào khoảng 525 triệu USD, tương đương 75% cổ phần. AVG đã nhận cọc 10 triệu $. Nhưng khi TTCP vào cuộc thì cả AVG và Bộ 4T đã không cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào về việc AVG đàm phán và nhận khoản đặt cọc 10 triệu $ với NĐT nước ngoài. Như vậy việc này là không có thật.
Sau đó, Bộ 4T đã yêu cầu Bộ Công an xem xét hướng dẫn AVG chuyển nhượng cổ phần. Ngày 8/12/2014, Bộ Công an có văn bản gửi Bộ 4T hướng dẫn AVG không được phép chuyển nhượng cho nước ngoài mà chỉ nên bán cổ phần cho NĐT trong nước.
Ngày 1/12/2014, Bộ 4T ra Quyết định 1798, thành lập Tổng công ty viễn thông MobiFone trên cơ sở tổ chức lại Công ty TNHH MTV Thông tin di động, bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh phát thanh truyền hình. Như vậy, ông Nguyễn Bắc Son đã ký quyết định bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh cho MobiFone sau khi xảy ra việc AVG chào bán cổ phần.
Ngày 27/1/2015, ông Lê Nam Trà, quyền Chủ tịch HĐQT MobiFone đã có văn bản trình Bộ 4T xin phê duyệt đầu tư dịch vụ truyền hình theo phương thức mua lại một hãng truyền hình kỹ thuật số. Và ngày 6/2/2015, Bộ TT-TT có Công văn số 408/BTTTT-QLDN thống nhất chủ trương theo đề xuất của MobiFone. Đến ngày 20/3/2015, MobiFone và AVG ký HĐ ghi nhớ việc mua bán cổ phần.
Sau đó, việc mua bán chuyển nhượng cổ phần có giá trị lên tới hàng ngàn tỉ đồng của nhà nước bị che kín bởi dấu tài liệu “mật”, toàn bộ quá trình đàm phán, đấu thầu, kể cả thẩm định giá. Đây là chiêu thức nhằm không ai biết, can thiệp vào việc người có chức vụ quyền hạn của MobiFone lấy tiền nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp thông đồng với tư nhân.
Việc MobiFone dù biết tình hình kinh doanh của AVG rất xấu (âm 50%VĐL, thua lỗ hàng ngàn tỷ đồng, các số liệu về dự án này thiếu cơ sở, kết quả thẩm định giá của các đơn vị thẩm định thiếu căn cứ,..) được báo cáo cho Bộ 4T, khi tiến hành thẩm định, lập và phê duyệt dự án, 4T tại văn bản số 5054/MOBIFONE ngày 14/9/2015, số 5441/MOBIFONE ngày 28/9/2015 và số 58/MOBIFONE ngày 25/9/2015 nhưng lãnh đạo Bộ 4T không chỉ gạt bỏ ý kiến phản biện của cấp dưới, báo cáo sai sự thật với Thủ tướng (NTD) về tình trạng bết bát của AVG. 
Cả khi ông Nguyễn Bắc Son ký quyết định thành lập tổ thẩm định (gồm 6 người) dự án, lãnh đạo 4T đã không tôn trọng ý kiến của các thành viên trong tổ, thậm chí gạt bỏ ý kiến phản biện. Tổ này họp vào ngày 8/10/2015, nhưng cuộc họp không ghi biên bản. Đáng lưu ý, 5 thành viên của tổ có báo cáo gửi tổ trưởng là ông Phạm Đình Trọng - Vụ trưởng Vụ Quản lý DN. Trong đó, Vụ trưởng Vụ Pháp chế có bản nhận xét nêu 2 ý kiến, trong đó nổi bật là nội dung phân tích để lựa chọn phương án mua cổ phần AVG thay vì đầu tư mới còn sơ sài, chưa đầy đủ thông tin cụ thể, cũng như chưa phân tích, so sánh ưu nhược điểm từng phương án.
Ngày 28.10.2015, ông Phạm Đình Trọng là tổ trưởng tổ thẩm định đã tham mưu để Bộ 4T ra Văn bản số 209/BTTTT-QLDN trình Thủ tướng xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư với dự án đầu tư dịch vụ truyền hình của MobiFone. Trong đó ghi rõ: “Dự án đầu tư ra ngoài DN của MobiFone có mức đầu tư 8.900 tỉ đồng thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ” và kiến nghị Thủ tướng xem xét phê duyệt.Tuy nhiên, ông Nguyễn Bắc Son còn “bút phê” cho Thứ trưởng Trương Minh Tuấn (nay là bộ trưởng), lạm quyền ký luôn quyết định phê duyệt dự án thay cho Thủ tướng.
Ngoài ra, Phó cục trưởng Cục Báo chí ngày 15/10/2015 cũng có báo cáo nêu, dự án chưa có điều kiện đi sâu phân tích những lợi thế của AVG so với các DN nhà nước khác kinh doanh truyền hình. Đồng thời cảnh báo hiện có nhiều DN kinh doanh truyền hình đang thua lỗ và bị sụt giảm thị phần nghiêm trọng, dù tồn tại trên thị trường đã nhiều năm.
Tuy nhiên, tất cả ý kiến phản biện trên đã bị bỏ qua. Ngoài ra, Bộ 4T báo cáo nhiều nội dung của dự án không đúng, không đầy đủ, không khách quan với Chính phủ như: Việc đối tác nước ngoài mua AVG giá 700 triệu USD, đã đặt cọc 10 triệu USD; việc AVG sử dụng 4 băng tần có giá trị lớn và tạo ra lợi thế nhưng không được loại trừ ra khi định giá AVG...
Tháng 7/2017, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng đặt vụ Mobifone- AVG vào nhóm các vụ cần "khẩn trương thanh tra". Nhưng tiến trình được đẩy tới bước ngoặt sau khi Ban Bí thư Đảng Cộng sản, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tuyên bố hôm 8/03" đây là một vụ việc rất nghiêm trọng, phức tạp, nhạy cảm".
Sáng hôm 13/3 Bộ Thông tin và Truyền thông báo cáo Ban Bí thư, Thường trực Chính phủ, Tổng Thanh tra Chính phủ về thông tin hủy bỏ thỏa thuận chuyển nhượng cổ phần giữa Tổng Công ty Viễn thông MobiFone thuộc Bộ Thông tin - Truyền thông và Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn Cầu (AVG). 
Dư luận cũng đặt câu hỏi về vai trò của Bộ trưởng Thông tin - Truyền thông, Trương Minh Tuấn, trong việc giám sát thương vụ này. Hồi tháng 11/2017, Bộ trưởng Trương Minh Tuấn đã bị một đại biểu Quốc hội chất vấn về thương vụ Mobifone mua AVG. Trả lời đại biểu Lê Thanh Vân, ông Trương Minh Tuấn cho biết đến thời điểm đó, ông "chưa nhận được kết luận từ Thanh tra Chính phủ", dù công tác thanh tra đã tiến hành xong 15 tháng trước, theo báo Tuổi Trẻ.

Trước đó, vào tháng 6/2017, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty MobiFone Lê Nam Trà được chuyển về Bộ Thông tin - Truyền thông, còn Thứ trưởng Phạm Hồng Hải được cử sang tạm thời điều hành MobiFone. Sáng tháng 8, ông Hải trao quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Mạnh Thắng làm Chủ tịch Hội đồng thành viên Mobifone. Đến tháng 12/2017, ông Cao Duy Hải, Tổng Giám đốc MobiFone đã được lãnh đạo Bộ Thông tin - Truyền thông "cho phép nghỉ ốm để chữa bệnh".

B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ:

1. MOBIFONE MUA AVG CÓ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ (bao gồm luật quản ly, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp số 69/2014/QH13, Luật đầu tư năm 2014 số 67/2014/QH13, cùng ban hành ngày 26/11/2014, hiệu lực ngày 01/07/2015; và luật đầu tư công số 49/2014/QH13 ban hành ngày 18/6/2014 hiệu lực ngày 01/01/2015):

Điều 9 (luật 69). Hành vi bị cấm trong lĩnh vực đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp 
1. Quyết định đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp không đúng thẩm quyền, phạm vi, trình tự, thủ tục. 
2. Can thiệp không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vào hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
3. Thực hiện không đúng quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước trong việc đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp. 
4. Thực hiện không đúng quy định về quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và quản lý phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. 
5. Giám sát, kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. 
6. Cung cấp thông tin, báo cáo không trung thực, không chính xác, không đầy đủ, không kịp thời theo quy định của pháp luật. 
7. Tiết lộ, sử dụng thông tin do doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý nhà nước cung cấp không đúng quy định của pháp luật.

Điều 28 (luật 69). Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp 
1. Việc sử dụng vốn, tài sản, quyền sử dụng đất của doanh nghiệp để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp phải tuân thủ theo quy định của Luật này, quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan; phù hợp với chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp. 
2. Hình thức đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp: 
a) Góp vốn để thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; góp vốn thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh không hình thành pháp nhân mới; 
b) Mua cổ phần tại công ty cổ phần, mua phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; 
c) Mua toàn bộ doanh nghiệp khác; 
d) Mua công trái, trái phiếu. 
3. Các trường hợp không được đầu tư ra ngoài doanh nghiệp: 
a) Góp vốn, mua cổ phần, mua toàn bộ doanh nghiệp khác mà người quản lý, người đại diện tại doanh nghiệp đó là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên, Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc, Phó Tổng giám đốc hoặc Phó Giám đốc, Kế toán trưởng của doanh nghiệp; 
b) Góp vốn cùng công ty con để thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. 
4. Thẩm quyền quyết định đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp: 
a) Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định từng dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp với giá trị không quá 50% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời điểm quyết định dự án nhưng không quá mức vốn của dự án nhóm B theo quy định của Luật đầu tư công. 
Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phân cấp cho Tổng giám đốc hoặc Giám đốc quyết định các dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo quy định tại điều lệ hoặc quy chế tài chính của doanh nghiệp; 
b) Trường hợp dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp có giá trị lớn hơn mức quy định tại điểm a khoản này, dự án góp vốn liên doanh của doanh nghiệp với nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, dự án đầu tư vào doanh nghiệp khác để cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, phê duyệt.

Điều 5. Lĩnh vực đầu tư công
1. Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
2. Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
3. Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích.
4. Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư.

Điều 16 (luật 49). Các hành vi bị cấm trong đầu tư công
1. Quyết định chủ trương đầu tư không phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; không đúng thẩm quyền; không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; không cân đối được nguồn vốn đầu tư.
2. Quyết định đầu tư chương trình, dự án khi chưa được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc không đúng với chủ trương đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định. Quyết định điều chỉnh tổng vốn đầu tư của chương trình, tổng mức đầu tư của dự án trái với quy định của pháp luật về đầu tư công.
3. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt, vụ lợi, tham nhũng trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư công.
4. Chủ chương trình, chủ đầu tư thông đồng với tổ chức tư vấn dẫn tới quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư chương trình, dự án gây thất thoát, lãng phí vốn, tài sản của Nhà nước, tài nguyên của quốc gia; làm tổn hại, xâm phạm lợi ích của công dân và của cộng đồng.
5. Đưa, nhận, môi giới hối lộ.
6. Yêu cầu tổ chức, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư khi chương trình, dự án chưa được quyết định chủ trương đầu tư, chưa được phê duyệt hoặc chưa được bố trí vốn kế hoạch, gây nợ đọng xây dựng cơ bản.
7. Sử dụng vốn đầu tư công không đúng mục đích, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức theo quy định của pháp luật.
8. Làm giả, làm sai lệch thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan đến quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, triển khai thực hiện chương trình, dự án.
9. Cố ý báo cáo, cung cấp thông tin không đúng, không trung thực, không khách quan ảnh hưởng đến việc lập, thẩm định, quyết định kế hoạch, chương trình, dự án.
10. Cố ý báo cáo, cung cấp thông tin không đúng, không trung thực, không khách quan ảnh hưởng đến việc theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án.
11. Cố ý hủy hoại, lừa dối, che giấu hoặc lưu giữ không đầy đủ tài liệu, chứng từ, hồ sơ liên quan đến quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, triển khai thực hiện chương trình, dự án.
12. Cản trở việc phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về đầu tư công.

Điều 8 (luật 49). Tiêu chí phân loại dự án nhóm A
Trừ các dự án quan trọng quốc gia quy định tại Điều 7 của Luật này, các dự án thuộc một trong các tiêu chí dưới đây là dự án nhóm A:
1. Dự án không phân biệt tổng mức đầu tư thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Dự án tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt;
b) Dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh;
c) Dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng, an ninh có tính chất bảo mật quốc gia;
d) Dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ;
đ) Dự án hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất;
2. Dự án có tổng mức đầu tư từ 2.300 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây:
a) Giao thông, bao gồm cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ;
b) Công nghiệp điện;
c) Khai thác dầu khí;
d) Hóa chất, phân bón, xi măng;
đ) Chế tạo máy, luyện kim;
e) Khai thác, chế biến khoáng sản;
g) Xây dựng khu nhà ở;
3. Dự án có tổng mức đầu tư từ 1.500 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây:
a) Giao thông, trừ các dự án quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;
b) Thủy lợi;
c) Cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật;
d) Kỹ thuật điện;
đ) Sản xuất thiết bị thông tin, điện tử;
e) Hóa dược;
g) Sản xuất vật liệu, trừ các dự án quy định tại điểm d khoản 2 Điều này;
h) Công trình cơ khí, trừ các dự án quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này;
i) Bưu chính, viễn thông;
4. Dự án có tổng mức đầu tư từ 1.000 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây:
a) Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản;
b) Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên;
c) Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới;
d) Công nghiệp, trừ các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này;
5. Dự án có tổng mức đầu tư từ 800 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây:
a) Y tế, văn hóa, giáo dục;
b) Nghiên cứu khoa học, tin học, phát thanh, truyền hình;
c) Kho tàng;
d) Du lịch, thể dục thể thao;
đ) Xây dựng dân dụng, trừ xây dựng khu nhà ở quy định tại điểm g khoản 2 Điều này.

Điều 9 (luật 49). Tiêu chí phân loại dự án nhóm B
1. Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này có tổng mức đầu tư từ 120 tỷ đồng đến dưới 2.300 tỷ đồng.
2. Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật này có tổng mức đầu tư từ 80 tỷ đồng đến dưới 1.500 tỷ đồng.
3. Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại khoản 4 Điều 8 của Luật này có tổng mức đầu tư từ 60 tỷ đồng đến dưới 1.000 tỷ đồng.
4. Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại khoản 5 Điều 8 của Luật này có tổng mức đầu tư từ 45 tỷ đồng đến dưới 800 tỷ đồng.

Điều 31 (luật 67). Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ 
Trừ những dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ theo pháp luật về đầu tư công và các dự án quy định tại Điều 30 của Luật này, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án sau đây: 
1. Dự án không phân biệt nguồn vốn thuộc một trong các trường hợp sau: 
a) Di dân tái định cư từ 10.000 người trở lên ở miền núi, từ 20.000 người trở lên ở vùng khác; 
b) Xây dựng và kinh doanh cảng hàng không; vận tải hàng không; 
c) Xây dựng và kinh doanh cảng biển quốc gia; 
d) Thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí; 
đ) Hoạt động kinh doanh cá cược, đặt cược, casino; 
e) Sản xuất thuốc lá điếu; 
g) Phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu chức năng trong khu kinh tế; 
h) Xây dựng và kinh doanh sân gôn; 
2. Dự án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên; 
3. Dự án của nhà đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, trồng rừng, xuất bản, báo chí, thành lập tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ 100% vốn nước ngoài; 
4. Dự án khác thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật.

=> KẾT LUẬN: MẶC DÙ CÓ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ, NHƯNG XÉT VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA CÁC LUẬT TRÊN THÌ KHÔNG ĐỦ CĂN CỨ KẾT LUẬN MOBIFONE VI PHẠM ĐƯỢC.


Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2018

Bài thơ: Về đi anh người con xứ quảng

Bài thơ: Về đi anh người con xứ quảng
(LS Nguyễn Cao Hùng tặng anh Vũ Trọng Kim ngày 24/12/2017)

Về đi anh người con xứ quảng

Về đi anh đem lửa hồng cách mạng

Để sưởi ấm lòng người đang nghiêng ngã

Giữa thế sự Quảng Đà ren rối

Hãy nhóm lại cờ hồng chiến sĩ

Khi ngọn lửa trong lò đang rực cháy

Khi lão đốt lò còn chưa ngơi nghỉ

Hãy là người thanh niên xung kích

Khơi dậy tiếng hát "Bài chòi" a nhé!




(Trích điệu cổ bản bài chòi mới viết của anh Vũ Trọng Kim- ĐBQH, nguyên UVTW Đảng, PCT UBTWMTTQ Việt Nam)


Dặn lòng ta hãy không ngưng

Diệt bầy tham nhũng chống lưng cường hào 

Bệnh hành chánh thói ngăn rào

Quay lưng đồng chí đồng bào thiêng liêng

Đốt lò-nóng máu Tiên Rồng

Nướng cho sạch cái lũ điên hại đời.

Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

Quyền tài phán của quốc gia ven biển

Khái quát về biển, đảo Việt Nam

Biển và đại dương được các nhà khoa học gọi là “Lục địa xanh”, phủ kín 70,8% bề mặt trái đất và đang “cất giấu” những kho nguyên liệu, khoáng vật khổng lồ dưới dạng hòa tan trong nước, lắng đọng dưới đáy và vùi kín dưới lòng đại dương. Do có đặc thù như vậy nên nhiều vùng biển, đại dương đang là nơi tranh chấp trên thế giới, nhất là đối với những nước lớn ở gần biển và đại dương có sức mạnh về kinh tế và quân sự.

Biển Đông là một biển nửa kín, nằm ở rìa Tây Thái Bình Dương, với diện tích khoảng 3,5 triệu km2 trải rộng từ vĩ độ 30 lên đến vĩ độ 260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210 Đông. Biển Đông tiếp giáp với 9 nước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Bruney, Malayxia, Singapore, Thái Lan, Camphuchia và một vùng lãnh thổ là Đài Loan. Biển Đông có vị trí chiến lược đối với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới.

Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1km bờ biển). Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam.


Hải đăng trên đảo Song Tử Tây - Trường Sa - Ảnh: Văn Thành Châu.

Quyền tài phán của quốc gia ven biển
Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: “quyền tài phán là quyền của cơ quan hành pháp và tư pháp của một quốc gia xem xét và giải quyết vụ việc theo thẩm quyền của mình. Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quốc gia thực hiện quyền tài phán đầy đủ... Quốc gia còn thực hiện quyền tài phán đối với một số nơi bên ngoài lãnh thổ quốc gia: vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các phương tiện bay, tàu biển, tàu thuyền nước ngoài đi lại trong lãnh hải của mình”. Như vậy, có thể thấy, đối với các quốc gia ven biển (QGVB), quyền tài phán được thực hiện đầy đủ trong lãnh thổ và các vùng biển của mình, với các mức độ và tính chất khác nhau, theo quy định của luật biển quốc tế.

Trong vùng nội thủy và lãnh hải, QGVB có quyền tài phán hình sự và dân sự nhất định đối với tàu thuyền nước ngoài theo những điều kiện mà Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (sau đây gọi là Công ước 1982) quy định (Điều 27, 28) khi hậu quả của vi phạm mở rộng đến QGVB; khi vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình của đất nước hay trật tự trong vùng nội thủy; khi thuyền trưởng hay viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu hay khi các biện pháp này là cần thiết để trấn áp việc buôn lậu chất ma túy hay các chất kích thích.

Đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, QGVB thực hiện quyền tài phán để ngăn chặn hoặc trừng trị các vi phạm về hải quan, thuế khóa, y tế và nhập cư; có quyền tài phán đối với các hiện vật mang tính khảo cổ hoặc lịch sử.

Trong vùng đặc quyền kinh tế, QGVB có quyền tài phán đối với việc lắp đặt, duy trì, sửa chữa và sử dụng các đảo nhân tạo, các công trình và thiết bị trên biển; quyền tài phán nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển. Khi thực hiện các quyền tự do biển cả (tự do bay, tự do hàng hải, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm), các quốc gia khác phải tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán và phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát của QGVB. Ngoài ra, QGVB cũng có quyền tài phán trong lĩnh vực hành chính, kỹ thuật và xã hội đối với tàu thuyền mang cờ của quốc gia mình trong các vùng biển của quốc gia khác.

Vùng biển nước ta: bao gồm cả vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nước ta có diện tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu km2). Vùng biển nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, được phân bố khá đều theo chiều dài của bờ biển đất nước, với vị trí đặc biệt quan trọng như một tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ sườn phía Đông của đất nước. Một số đảo ven bờ còn có vị trí quan trọng được sử dụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam, từ đó xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, làm cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển.

Theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven biển có năm (05) vùng biển gồm: Nội thủy nằm bên trong đường cơ sở; lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý; vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở; riêng thềm lục địa có thể kéo dài ra tới 350 hải lý. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển nói trên:

(1) Nội thủy: Là vùng nước nằm ở phía trong đường cơ sở của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nội thủy được coi như lãnh thổ trên đất liền, đặt dưới chủ quyền toàn vẹn đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia Việt Nam.

Đường cơ sở: là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội thủy, do quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo định ra phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Là đường dùng làm căn cứ để tính chiều rộng lãnh hải và các vùng biển khác. Có 2 loại đường cơ sở:
- Đường cơ sở thông thường: Là đường sử dụng ngấn nước thủy triều thấp nhất ven bờ biển hoặc hải đảo.
- Đường cơ sở thẳng: Là đường nối các điểm hoặc đảo nhô ra nhất của bờ biển lục địa hoặc đảo. Đường cơ sở thẳng áp dụng khi bờ biển quốc gia ven biển bị chia cắt hoặc có chuỗi đảo gắn liền và chạy dọc theo bờ biển.
Nước ta có chuỗi đảo chạy dọc theo bờ biển được vận dụng để xác định đường cơ sở thẳng. Năm 1982, Chính phủ nước ta ra tuyên bố xác định đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa Việt Nam gồm 10 đoạn nối 11 điểm. Trừ điểm A8 nằm trên mũi Đại Lãnh, các điểm còn lại đều nằm trên các đảo. Điểm 0 nằm trên ranh giới phía Tây Nam của vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia. Điểm A1: Hòn Nhạn (Kiên Giang); A2: Hòn Đá Lẻ (Cà Mau); A3: Hòn Tài Lớn; A4: Hòn Bông Lan; A5: Hòn Bảy Cạnh (Bà Rịa - Vũng Tàu); A6: Hòn Hải (nhóm đảo Phú Quý - Bình Thuận); A7: Hòn Đôi (Khánh Hòa); A8: Mũi Đại Lãnh (Khánh Hòa); A9: Hòn Ông Căn (Bình Định); A10: Đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi); A11: Đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị).

(2) Lãnh hải: Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý (01 hải lý tương đương 1.852m), ở phía ngoài đường cơ sở. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới của quốc gia ven biển. Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải. Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, chủ quyền đối với vùng lãnh hải không phải là tuyệt đối như vùng nội thủy, tàu thuyền các nước khác được “đi qua không gây hại” trong lãnh hải. Các quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chia các luồng giao thông dành cho tàu nước ngoài đi qua lãnh hải nhằm bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của mình.

(3) Vùng tiếp giáp lãnh hải: Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng 12 hải lý, hợp với lãnh hải thành một vùng rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình nhằm bảo vệ quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.

(4) Vùng đặc quyền kinh tế: Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền vùng lãnh hải và hợp với vùng lãnh hải thành vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có thẩm quyền trong bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

(5) Thềm lục địa: Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó. Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, nước nào có thềm lục địa tự nhiên quá rộng thì thềm lục địa có thể mở rộng ra không quá 350 hải lý kể từ đường cơ sở. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam.


Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

Tại sao phải nghiên cứu & ban hành Pháp luật về Marketing Thương mại điện tử (Law on E-Marketing)

Tại sao phải nghiên cứu & ban hành Pháp luật về Marketing Thương mại điện tử (Law on E-Marketing)

Điện thoại phải mất 35 năm để tiếp cận với 25% dân số Mỹ, truyền hình mất 26 năm, phát thanh mất 22 năm và điện thoại đi động mất 12 năm, còn Internet chỉ mất 7 năm (từ 2000-2009), trên toàn cầu đã có khoảng 1,6 tỷ người truy cập vào mạng Internet, tốc độ tăng trưởng là 362.3%. Trong ngày độc thân 11/11/2016, doanh số bán hàng Alibaba 1,47 tỷ USD chỉ trong vòng 6 phút 58. Theo số liệu do Công ty We Are Social công bố tháng 01/2017, Việt Nam có dân số khoảng 93 triệu người, trong đó 52 triệu người dùng Internet; có 46 triệu tài khoản mạng xã hội, riêng Facebook có khoản 30 triệu tài khoản và tiêu tốn hơn 3 giờ mỗi ngày/người. Theo thống kê năm 2014, cứ một người Việt có 1.45 sim điện thoại, do đó sẽ là thị trường tiềm năng đối với loại hình mobile marketing.



Tiếp thị thương mại điện tử (e-marketing) được sử dụng và biến hóa dưới nhiều cách khác nhau bởi sự phong phú và linh hoạt trong việc truyền tải nội dung. Trên môi trường Internet, khái niệm về không gian, thời gian là rất mờ nhạt và e-marketing đã tận dụng đặc điểm này để phát huy thế mạnh của mình, củng cố lợi ích mang lại cho doanh nghiệp ứng dụng.

Thương mại điện tử và công nghiệp tiếp thị là 2 lĩnh vực kinh tế mới mẻ tại VN. Đa phần các nghiên cứu đều xem xét các vấn đề về TMĐT độc lập với tiếp thị. Rất ít nghiên cứu về E-Marketing, và chỉ dừng lại khía cạnh kinh tế mà chưa xem xét đến mặt pháp lý của nó. Do đó, việc tìm hiểu và đề xuất mô hình vận động cho pháp luật trong lĩnh vực E-M phù hợp với xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế, với sự vận động của các quan hệ xã hội trong môi trường kinh doanh mạng, cũng như đáp ứng được sự thay đổi không ngừng của CNTT-VT là một vấn đề cần thiết và có ý nghĩa to lớn với thời đại Công nghiệp 4.0 ngày nay.

1. Hệ thống pháp lý về E-Marketing

- Một là, các đạo luật cơ bản: Bộ luật hình sự; Các điều ước quốc tế; Bộ luật dân sự;..

- Hai là, các luật chuyên ngành: Quảng cáo; Khuyến mại; Sở hữu trí tuệ; Quyền riêng tư; Cạnh tranh & Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Giao kết hợp đồng đặt hàng trực tuyến;..

- Ba là, các quy định hành chính của chính phủ

- Bốn là, Quy chế tự quản của ngành (hiệp hội): Hiệp hội quảng cáo; Hiệp hội bảo vệ QLNTD;...

2. 08 chế định cơ bản mà pháp luật điều chỉnh E-marketing

- Một là, Sở hữu trí tuệ.

- Hai là, pháp luật về Công nghệ thông tin & Viễn thông

- Ba là, pháp luật về xuất bản & báo chí

- Bốn là, pháp luật về Thuế trong lĩnh vực E-marketing

- Năm là, pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư, và riêng tư khác.

- Sáu là, pháp luật về chất lượng sản phẩm & An toàn thực phẩm; dược phẩm;..

- Bảy là pháp luật về Cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động xúc tiến

- Tám là, chế định về Hợp đồng đặt hàng trực tuyến & thanh toán trực tuyến

Ngoài ra còn có các chế tài về xử phạt vi phạm hành chính & hình sự trong tiếp thị (quảng cáo) & giá (trong khuyến mãi).


3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Thứ nhất, dự báo xu hướng vận động của pháp luật về E-Marketing, góp phần hoàn thiện pháp luật và định hướng giải quyết tranh chấp. 

- Thứ hai, góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách nhà nước, nhằm quản lý hiệu quả hơn, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển nhanh chóng, ổn định và an toàn Thương mại điện tử và ngành công nghiệp tiếp thị số ở Việt Nam. 

- Thứ ba, góp phần hoàn thiện pháp luật Xúc tiến Thương mại & pháp luật cạnh tranh, Bảo vệ quyền lợi Người tiêu dùng.

- Thứ tư, góp phần dự thảo Luật bảo vệ quyền riêng tư, Luật Thương mại điện tử phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng Công nghiệp 4.0.

- Thứ năm, tạo nền tảng khoa học pháp lý để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn pháp luật về E-Marketing & cơ chế giải quyết tranh chấp Trực tuyến. Làm tiền đề xây dựng Luật E-Marketing & pháp luật Trọng tài Thương mại Trực tuyến.

4. Phương hướng hoàn thiện pháp luật E-Marketing ở VN

a. Thứ nhất, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách quản lý chặt chẻ và hiệu quả, cần thiết phải kết hợp và phát triển các mô hình tự quản như hiệp hội quảng cáo,... Đồng thời phải sửa đổi bổ sung phần Xúc tiến thương mại của luật Thương mại 2005 để phù hợp với các pháp luật chuyên ngành và thực tiễn kinh doanh thương mại hiện đại, cụ thể như sau: 

- Một là, pháp luật về quảng cáo cần có các quy định cụ thể điều chỉnh hoạt động tiếp thị, quảng cáo thông qua mạng xã hội; công cụ tìm kiếm; trình duyệt; các tiểu blog, tiểu forum,..; 

- Hai là, pháp luật về khuyến mại cần đưa ra định nghĩa phân biệt giữa các thuật ngữ như: "hạ giá", "giảm giá", "chiết khấu", " khuyến mại", "thanh lý hàng tồn kho" để tránh nhầm lẫn khi áp dụng; 

- Ba là, tiến tới việc cấm hoàn toàn việc tiếp thị, quảng cáo dưới mọi hình thức của các sản phẩm độc hại như: Thuốc lá, Rượu các loại, Bia các loại,..đúng như "lộ trình thực hiện" giai đoạn 2014-2016, trong quyết định số: 244/QĐ-TTg, ngày 12/02/2014. Từ đó, ban hành luật Phòng chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn.

b.Thứ hai, vấn đề pháp luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng rất cấp thiết, để phù hợp với thực tế kinh doanh hiên nay. Luật Cạnh tranh được biết như là hiến pháp của pháp luật kinh doanh nhưng đã lạc hậu, cần phải sửa đổi bổ sung đối với một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo, khuyến mại mà các doanh nghiệp đang lạm dụng một cách tinh vi; Hiện tại luật chỉ điều chỉnh phương pháp kinh doanh Đa cấp mà chưa điều chỉnh các phương pháp khác như Viral marketing, Placebo marketing, Ambush marketing, Mobile marketing. Ngoài ra, cũng cần phải hoàn thiện pháp luật về "tố tụng cạnh tranh" dựa trên cơ sở Hội đồng cạnh tranh hiện nay, để đảm bảo hiệu quả thực thi của nó trong thời gian đến.

c.Thứ ba, vấn đề Quyền riêng tư trong hoạt động E-Marketing cũng mang tính thời sự trong cách mạng Công nghiệp 4.0. Ngoài các giải pháp kỹ thuật, thì việc nghiên cứu ban hành Luật bảo vệ quyền riêng tư cá nhân, quyền riêng tư của trẻ em, để phòng ngừa tác hại của tiếp thị thương mại điện tử là cần thiết. Bên cạnh đó, phải ban hành pháp luật điều chỉnh các hành vi lạm dụng "Sốc-Sex-Sến" trong tiếp thị lan tỏa, để hạn chế các chủ thể lợi dụng công nghệ tăng lượt truy cập, thu hút người dùng, kiếm tiền bất chính, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, phong tục nước ta.

d.Thứ tư, vấn đề giao kết hợp đồng đặt hàng trực tuyến và cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến là vấn đề mới mẻ mà pháp luật nước ta cần nghiên cứu áp dụng, cụ thể như sau: 

- Một là, khẩn trương nghiên cứu gia nhập công ước UNCITRAL 2005 về hợp đồng điện tử, từ đó làm căn cứ để triển khai ban hành Luật Thương mại điện tử; 

- Hai là, nghiên cứu triển khai phát triển cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến, từ đó, sửa đổi bổ sung Luật Trọng tài thương mại 2010 & Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; 

- Ba là, ban hành sổ tay về pháp luật E-marketing, kèm theo chế tài để phổ biến và răng đe người dùng, khi tham gia Thương mại điện tử. Từ đó, hoàn thiện việc nghiên cứu, ban hành Luật tiếp thị thương mại điện tử ở VN ;

By: LS-ThS Nguyễn Cao Hùng



Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

PHÂN BIỆT CÔNG PHÁP QUỐC TẾ & TƯ PHÁP QUỐC TẾ

PHÂN BIỆT CÔNG PHÁP QUỐC TẾ & TƯ PHÁP QUỐC TẾ

A. CÔNG PHÁP QUỐC TẾ (LUẬT QUỐC TẾ)
1. Khái niệm Luật quốc tế

Công pháp quốc tế (hay Luật quốc tế) là ngành luật đặc biệt có nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các quốc gia có chủ quyền và các chủ thể khác tham gia quan hệ quốc tế (các dân tộc đấu tranh vì độc lập và tự do dân tộc mình và các tổ chức quốc tế). Nhưng ở đây cần phân biệt với Tư pháp quốc tế là ngành luật điều chỉnh những quan hệ mang tính chất dân luật có nhân tố nước ngoài tham gia. 

Luật quốc tế hiện đại là tổng thể những nguyên tắc, những quy phạm pháp lý được các quốc gia và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp lý quốc tế xây dựng trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, thông qua đấu tranh và thương lượng, nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủ thể của Luật quốc tế với nhau (trước tiên và chủ yếu là giữa các quốc gia) và trong những trường hợp cần thiết được bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể do chính các chủ thể của Luật quốc tế thi hành, và bằng sức đấu tranh của nhân dân và dư luận tiến bộ thế giới.


2. Chủ thể của Luật quốc tế hiện đại 
a. Quốc gia - Chủ thể của Luật quốc tế

b. Các dân tộc đang đấu tranh nhằm thực hiện quyền dân tộc tự quyết và chủ thể của Luật quốc tế hiện đại

c. Tổ chức quốc tế liên chính phủ là chủ thể đặc biệt của Luật quốc tế hiện đại:

Các tổ chức liên chính phủ là chủ thể đặc biệt của Luật quốc tế bao gồm: Tổ chức y tế thế giới (WHO), Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức giáo dục, khao học- văn hoá (UNESCO), Quỹ trẻ em Liên Hiệp Quốc (UNICEP), Cao uỷ Liên Hiệp Quốc về người tỵ nạn (UNHCR), Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP),…

d. Các vùng lãnh thổ như Đài Loan, Cantania,..

3. 07 Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế

a. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

Trong Hiến chương Liên hợp quốc, nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia là nguyên tắc của Luật quốc tế và cũng là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của tổ chức quốc tế rộng rãi này. Điều 2, khoản 2 Hiến chương ghi rõ: Liên hợp quốc thành lập trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các nước thành viên.

Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng LHQ về những nguyên tắc của Luật quốc tế giải thích nội dung của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia như sau: Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý; Mỗi quốc gia đều được hưởng đầy đủ những quyền xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền; Mỗi quốc gia đều phải có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và thiện chí những nghĩa vụ quốc tế của mình đã tự nguyện cam kết;

Nguyên tắc này biểu hiện qua những quan điểm sau đây:

- Thứ nhất, tất cả các quốc gia đều bình đẳng về mặt pháp lý.

- Thứ hai, tất cả các quốc gia đều có những quyền làm nghĩa vụ quốc tế cơ bản như nhau. 

- Thứ ba, tất cả các quốc gia đều có quyền như nhau được tôn trọng về quốc thể, về sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị độc lập.

- Thứ tư, mỗi quốc gia có quyền được tự do tham gia vào việc giải quyết vấn đề liên quan đến lợi ích của họ không một quốc gia nào có quyền trước đó của một quốc gia khác. 

- Thứ năm, khi giải quyết những vấn đề quốc tế trong phạm vi các tổ chức và hội nghị quốc tế, mỗi quốc gia đều sử dụng một lá phiếu có giá trị ngang nhau. 

- Thứ sáu, các quốc gia ký điều ước với nhau phải trên cơ sở phải bình đẳng, không có một quốc gia nào có quyền áp đặt những điều kiện không bình đẳng đối với quốc gia khác. 

b. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác

Nguyên tắc không can thiệp là tất cả các quốc giai chấp hành có nghĩa vụ không được hành động can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền của quốc gia khác.

Nguyên tắc không can thiệp là hệ quả của nguyên tắc chủ quyền quốc gia. Việc thực hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, tức là tôn trọng quyền tối cao ở trong nước và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế của quốc gia, đương nhiên phải tôn trọng hoạt động thuộc thẩm quyền nội bộ của quốc gia đó, nên đòi hỏi các quốc gia không được can thiệp vào lĩnh vực hoạt động này.

Theo tuyên bố này, nội dung của nguyên tắc không can thiệp bao gồm:

- Cấm can thiệp vũ trang và những hình thức can thiệp hoặc đe doạ can thiệp khác nhằm chống lại chủ quyền, hoặc nền tảng chính trị, kinh tế, văn hoá của quốc gia khác.

- Cấm dùng biện pháp kinh tế, chính trị,... để bắt quốc gia khác phải phụ thuộc mình.

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích, giúp đỡ những phần tử hoạt động phá hoại hoặc khủng bố nhằm lật đổ quốc gia khác.

- Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ ở các quốc gia khác.

- Mỗi quốc gia đều có quyền tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá, không có sự can thiệp của nước ngoài.

Tóm lại, nguyên tắc không can thiệp ngày nay đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và được ghi nhận trong hầu hết văn bản pháp lý quốc tế hai bên cũng như nhiều bên.

c. Nguyên tắc dân tộc tự quyết

Theo bản tuyên bố năm 1970 về những nguyên tắc của Luật quốc tế nội dung của nguyên tắc dân tộc tự quyết được giải thích như sau:

- Tất cả các dân tộc có quyền tự do quyết định quy chế chính trị của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài, và tự do quyết định sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hoá của dân tộc mình.

- Tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền này của các dân tộc.

- Tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ phải thúc đẩy các dân tộc thực hiện quyền tự quyết của họ.

- Cấm không được thống trị và bốc lột dân tộc khác. Phải xoá ngay lập tức chủ nghĩa thực dân.

- Các dân tộc thuộc địa có quyền sử dụng mọi biện pháp cần thiết để đấu tranh giành độc lập.

Sau khi giành được độc lập, các dân tộc có thể thành lập quốc gia dân tộc độc lập của mình hay liên minh với quốc gia khác đã có hoặc các dân tộc khác cũng vừa mới giành được độc lập, dưới hình thức liên bang, hợp bang,... theo cách nhìn nhận của mình.

Các dân tộc dành được độc lập chính trị và đã thành lập được quốc gia độc lập của mình có thêm một cơ sở pháp lý một vũ khí có hiệu lực để cũng cố nền độc lập chính trị của mình và đấu tranh chống lại sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc nhằm giành được chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt với toàn bộ tài nguyên thiên nhiên của dân tộc và nhằm đấu tranh thiết lập một trực tự kinh tế quốc tế mới. 

d. Nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế

Theo tuyên bố năm 1970, nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế có những nội dung sau đây:

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác, kể cả vi phạm biên giới quốc gia của nước khác, với giới tuyến ngừng bắn;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực chống lại nền độc lập chính trị của quốc gia khác;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực làm biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế;

- Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược;

- Cấm dùng vũ lực để ngăn cản các dân tộc thực hiện quyền dân tộc tự quyết cuả họ;

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích bọn phỉ, kể cả lýnh đánh thuê, để xâm lựơc lãnh thổ quốc gia khác;

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích ủng hộ hoặc tham gia vào những cuộc nội chiến hoặc khủng bố ở nước khác;

- Cấm dùng vũ lực để chiếm đóng lãnh thổ quốc gia khác một cách trái với Hiến chương Liên hợp quốc;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia khác; tức xâm lược vũ trang.

e. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hòa bình

Điều 2 khoản 3 Hiến chương Liên hợp quốc quy định: tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp của họ bằng những phương pháp hoà bình, làm sao để khỏi gây ra sự đe doạ cho hoà bình, an ninh thế giới và công lý.

Theo Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên bố năm 1970 nêu lên một số phương pháp hoà bình, đó là: đàm phán, điều tra, trung gian hoà giải, trọng tài, Tòa án thông qua cơ các quan hay hiệp định khu vực, hoặc bằng những phương pháp hoà bình khác mà các bên tự chọn. Rõ ràng, Luật quốc tế hiện đại chưa quy định hết những pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp quốc tế, mà mới chỉ nêu lên một số phương pháp thông dụng nhất và giành cho các quốc gia quyền tự lựa chọn những phương hoà bình khác mà, theo họ là hợp lý. 

Chỉ có một điều bắt buộc tất cả các quốc gia là: giải quyết tranh chấp quốc tế bằng những phương pháp hoà bình. Mọi phương pháp bạo lực, cưỡng ép doạ dẫm,... đều bị nghiêm cấm. Căn cứ vào tuyên bố năm 1970, một khi các bên tranh chấp đã sử dụng phương hoà bình này để giải quyết tranh chấp, nhưng chưa đạt được kết quả, thì phải tìm phương pháp hoà bình khác để giải quyết.

g. Nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế (Pacta Sunt Servanda)

Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda được gải thích cụ thể trong tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế có nội dung bao gồm các điểm sau:

- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện một cách thiện chí những nghĩa vụ mà mình đã cam kết phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và Luật quốc tế hiện đại. Những nghĩa vụ đã cam kết ở đây chủ yếu gồm những nghĩa vụ phát sinh từ điều ước, và những và những nghĩa vụ phát sinh từ các nguồn khác, ví dụ, từ tập quán quốc tế. Nhưng tất cả những nghĩa vụ đó phải phù hơp với những điều quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc mà trước hết là những mục đích và nguyên tắc của tổ chức này. Như vậy, đối với những nghĩa vụ không phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc thì sẽ không được thi hành.

- Các quốc gia cũng sẽ không thi hành các cam kết bất bình đẳng. Lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy không ít những điều ước quốc tế không hợp pháp ví dụ hiệp ước Munich ngày 29/9/1938. Những điều ước như vậy không có giá trị pháp lý cho nên không thể ràng buộc các bên đã ký kết. Vì vậy các quốc gia không có nghĩa vụ phải thực hiện chúng.

- Nếu những cam kết phát sinh từ điều ước quốc tế trái với những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc thì những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc sẽ được ưu tiên thi hành. Việc tham gia Liên hợp quốc không cản trở các quốc gia ký kết những điều ước song phương, cũng như đa phương. Nhưng nội dung của những điều ước này không được trái với Hiến chương Liên hợp quốc(Điều 52 Hiến chương Liên hợp quốc). Do vậy, trong trường hợp những cam kết phát sinh từ điều ước quốc tế trái với nhưng cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc quy định, thì những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc sẽ được ưu tiên thi hành một cách nghiêm chỉnh (Điều 103 hiến chương liên hợp quốc).

- Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda cũng không áp dụng với những điều ước khi ký kết vi phạm những quy định về thẩm quyền và thủ tục ký kết chúng. Trong thực tiễn, điều ước quốc tế, cam kết quốc tế cũng có thê không được thi hành khi những điều kiện để thi hành nó đã thay đổi về cơ bản (Rebus Sic Stantibus). Ví dụ như Hoa Kỳ đã hủy bỏ TTP khi Tổng thống mới đắc cử.

h. Các quốc gia có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau 

B.TƯ PHÁP QUỐC TẾ
1. Khái niệm Tư pháp quốc tế

Tư pháp quốc tế là một bộ môn khoa học pháp lý độc lập và là một ngành luật độc lập bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài.

a. 09 chế định cơ bản mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh là các quan hệ sau:

- Một là, địa vị pháp lý của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài.

- Hai là, về sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài.

- Ba là, về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

- Bốn là, pháp luật về thanh toán quốc tế

- Năm là, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng

- Sáu là, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

- Bảy là, thừa kế tài sản

- Tám là, lao động có yếu tố nước ngoài

- Chín là,về tố tụng dân sự quốc tế.

b. Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

Sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia là hiện thực tất yếu khách quan trong mọi thời đại. Tất cả các lĩnh vực quan hệ pháp lý giữa các quốc gia thuộc đối tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế nhưng những quan hệ pháp lý giữa công dân và pháp nhân phát sinh trong đời sống quốc tế thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là những quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài được khẳng định tại Điều 758 Bộ luật dân sự 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: “... Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.

Theo Điều 663 BLDS 2015 thì có 3 loại yếu tố nước ngoài mà một quan hệ dân sự có sự hiện diện của một trong ba loại yếu tố đó thì thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Đó là:

- Thứ nhất, chủ thể là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

- Thứ hai, khách thể của quan hệ pháp lý ở nước ngoài (ví dụ di sản thừa kế ở nước ngoài,..).

- Thứ ba, sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài (hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Hoa Kỳ ...).

c. Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

- Phương pháp xung đột: Các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến một hay nhiều quốc gia khác nghĩa là liên quan đến các hệ thống pháp luật khác nhau. Vấn đề đặt ra là cần phải chọn luật pháp nước nào áp dụng để giải quyết quan hệ dân sự đã phát sinh. Việc chọn luật áp dụng phải căn cứ vào quy phạm xung đột. Quy phạm xung đột là loại quy phạm đặc thù của Tư pháp quốc tế. Như vậy, phương pháp xung đột là phương pháp áp dụng các quy phạm pháp luật xung đột nhằm điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế.

- Phương pháp thực chất: Đây là phương pháp áp dụng các quy phạm pháp luật thực chất. Khác với quy phạm xung đột, quy phạm thực chất trực tiếp điều chỉnh và quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ pháp luật cụ thể. Quy phạm pháp luật thực chất bao gồm: quy phạm thực chất thống nhất (được ghi nhận trong Điều ước quốc tế) và quy phạm thực chất thông thường (được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc gia).

d. Chủ thể của Tư pháp quốc tế

Chủ thể của Tư pháp quốc tế là bộ phận cấu thành cơ bản của quan hệ Tư pháp quốc tế, là thực thể đang hoặc sẽ tham gia trực tiếp vào các quan hệ Tư pháp quốc tế một cách độc lập có các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định được bảo vệ theo các quy định của Tư pháp quốc tế và có khả năng độc lập chịu trách nhiệm pháp lý theo qui định của pháp luật đối với những hành vi do chủ thể đó gây ra.

Chủ thể của Tư pháp quốc tế bao gồm thể nhân, pháp nhân và nhà nước (vùng lãnh thổ). Thể nhân và pháp nhân là chủ thể cơ bản, nhà nước (vùng lãnh thổ) là chủ thể đặc biệt.

e. Nguồn của Tư pháp quốc tế

- Luật pháp của mỗi quốc gia

- Điều ước quốc tế

- Thực tiễn tòa án và trọng tài (án lệ)

- Tập quán

Nguồn của Tư pháp quốc tế mang hai tính chất: Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế mang tính chất điều chỉnh quốc tế;  Luật pháp của mỗi quốc gia mang tính chất điều chỉnh quốc nội. Mối tương quan giữa 2 tính chất trên đây của nguồn tư pháp quốc tế thể hiện rõ từ Điều 664 đến Điều 670 v của Bộ luật dân sự 2015.

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Máy ATM bitcoin đầu tiên tại Việt Nam và xu hướng giao dịch bitcoin ?


Máy ATM bitcoin đầu tiên tại Việt Nam và xu hướng giao dịch bitcoin ?


Chữ B in hoa trong B Coffee là viết tắt của bitcoin-một loại tiền điện tử đã làm thay đổi mối quan hệ của chúng ta với tiền bạc. Bitcoin xuất hiện đầu tiên năm 2009, và người dùng có thể chuyển tiền trực tiếp cho nhau, không cần thông qua một đơn vị trung gian như ngân hàng.


Đi qua biển hiệu có chữ B treo trước căn nhà số 74 Bùi Viện, bạn nghĩ lại là một hình thức quảng cáo vô thưởng vô phạt của một quán cà phê nào đó. Nhưng đối với những ai hiểu chuyện, đây là biểu tượng khá thú vị, biểu tượng của tương lai.
Hoạt động trao đổi này được ghi lại trong một cuốn sổ cái công cộng (public ledger) gọi là blockchain. Đây cũng là nơi các thợ mỏ “đào” bitcoin và đưa những đồng bitcoin mới vào lưu thông. Từ khi thành lập đến nay, giá trị bitcoin liên tục tăng vọt. Tháng 6/2009 một bitcoin được định giá ở mức 0,0001 USD trong khi hiện tại đã hơn 2.000 USD.

Theo blogger Thomas Barrett, B Coffee sở hữu chiếc máy ATM bitcoin đầu tiên tại Việt Nam. Đây cũng là chiếc máy duy nhất hoạt động suốt 24/24 giờ. Với chiếc máy này, khách hàng cho tiền giấy vào để đổi lấy tiền điện tử bitcoin trong ví điện tử của mình, sau đó có thể mua bán hàng hóa dịch vụ như bất kỳ loại tiền tệ nào.


Dĩ nhiên ở B Coffee, khách hàng có thể dùng bitcoin để mua bia hay cà phê. Danny - người sở hữu B Coffee, tin rằng bitcoin không chỉ đơn giản là một sản phẩm mới.
“Tiền điện tử đang tạo nên những xáo trộn. 20 năm trước khi Internet xuất hiện, mọi người không biết họ có thể làm gì với Internet, nhưng rồi họ dần dần hiểu ra và hiện giờ không thể sống thiếu nó. Cuộc sống của họ xoay quanh Internet. Tôi cảm thấy bitcoin cũng sẽ như vậy. Cuộc sống của tôi cũng đang xoay quanh bitcoin”.
Chia sẻ lý do đặt máy ATM tại phố tây Bùi Viện, Danny cho biết ngày càng có nhiều khách du lịch nước ngoài sử dụng bitcoin như phương tiện giao dịch để tránh những khoản phí đắt đó nếu phải đổi tiền giấy hay biến động tỷ giá. Danny khẳng định không chỉ những vị khách này được lợi từ bitcoin mà có khả năng, cuộc sống của nhiều người Việt cũng đã có bước biến đổi quan trọng.
“Một phụ nữ người Việt đã từng bỏ 68.000 USD để mua bitcoin từ tôi”, Danny nhớ lại. “Lý do ư? Cô ấy muốn giữ một phần số tiền tiết kiệm bằng bitcoin. Thời điểm cô ấy mua vào chỉ khoảng 1.000 USD/bitcoin và giờ chắc người này đang tận hưởng trái ngọt”.
Danny cho biết thêm 8 hay 9 năm trước đây, mọi người hầu như không biết gì về bitcoin. 4 năm trước đây, một số người biết đến loại tiền này, đa số thì không; họ thường liên tưởng bitcoin với giới hacker hoặc ma túy. Nhưng gần đây, nhiều sàn giao dịch bitcoin đã mọc lên. Thái độ của mọi người với bitcoin đang thay đổi.


Xã hội không tiền mặt?

Ngoài việc được đánh giá là một hạng mục đầu tư tiềm năng, bitcoin có thể mở ra hướng mới cho ngành công nghiệp xuất khẩu Việt Nam, tiếp cận những khu vực không có phương tiện thanh toán rõ ràng. Ở dạng bitcoin, giá hàng hóa Việt Nam cũng giống giá hàng hóa ở Anh hay Australia.
"Một khi mọi người chấp nhận thanh toán bằng bitcoin, bất cứ mặt hàng nào, từ cà phê đến thủ công mỹ nghệ đều có thể bán qua biên giới. Việc này tốt hơn cho người dân”, Danny cho biết.

Nhưng với các chính phủ thì sao? Làm thế nào để đối phó với một hệ thống mà vai trò của họ bị “phớt lờ” hoàn toàn?
Chính phủ Việt Nam cùng các bộ ngành liên quan đang gấp rút thực hiện đề án “Hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo”, dự kiến sẽ kết thúc trước tháng 12 năm nay. Còn tại Trung Quốc, giao dịch bitcoin ở đây chỉ chiếm 10% tổng giao dịch trên toàn thế giới vào năm 2012, nhưng đã tăng lên tới gần 100%. Nhiều nhà đầu tư đã sớm nhìn thấy xu hướng này và đang tận hưởng thành quả.
Hiện tại, bitcoin đang phải đối mặt với nhiều sự chỉ trích, khi các chuyên gia tài chính dự đoán tốc độ tăng trưởng của đồng tiền này không bền vững, có thể dẫn tới sự sụp đổ tồi tệ bất cứ lúc nào. Một số người khác thì chỉ ra bitcoin không tồn tại ở trạng thái vật lý, có thể nhìn thấy hay sờ thấy, nên sẽ dễ bị hacker kiểm soát và đánh cắp.
Còn với Danny, chủ quán cà phê sở hữu máy ATM bitcoin đầu tiên tại Việt Nam, anh nhìn nhận bitcoin “là trường hợp nếu không thể đánh bại, thì hãy tham gia”.

Chế định Bitcoin trong ngành tài chính Nhật ?


Chế định Bitcoin  trong ngành  tài chính Nhật ?


Các công ty môi giới Nhật Bản cũng muốn tham gia vào thị trường tiền ảo, tự mình đào coin và đưa ra những định chế riêng.


Với việc người dân Nhật hăm hở mua và lưu hành tiền ảo bitcoin, SBI Holding, GMO Internet và các công ty chứng khoán trực tuyến đang muốn đào mỏ tiền ảo nhằm tạo nguồn doanh thu mới.
Đơn vị khai thác tiền ảo cần hệ thống máy chủ lớn để theo dõi tất cả các giao dịch trên blockchain (sổ cái). Nó cũng phải giải các thuật toán ngày càng phức tạp.

Nhật Bản đang muốn trở thành đầu tàu của ngành công nghiệp tiền ảo


Nhiều mỏ khai thác tiền ảo ngày nay được đặt tại Trung Quốc vì có giá điện rẻ nên thu lợi cao. Giờ đây, ngành tài chính Nhật Bản mong muốn tham gia vào đào tiền ảo và khâu quy định các loại tiền. Tức là họ muốn viết ra các định chế về tiền tệ mới.
Sự nổi lên của bitcoin lý giải vì sao ngành công nghiệp tài chính Nhật Bạn lại háo hức đến như vậy. Hôm 5/10, giá 1 bitcoin đã đạt 499.000 yên (khoảng 4.400 USD). Nhưng chẳng một ai trong số các ông lớn tài chính nước này có hệ thống đào bitcoin.
Nhưng trước khi vận hành máy đào tiền ảo, người khai thác mỏ cần một ngân hàng máy tính hiệu suất cao. Hãy hình dung sức cạnh tranh trên thị trường tiền ảo giống như cuộc chạy đua vũ trang, chỉ những người có đủ nguồn lực mới có thể tham gia.


Bitcoin được điều hành bởi khoảng một chục kỹ sư gọi là các nhà phát triển cốt lõi, những người thiết lập các quy tắc của đồng tiền. Người khai thác mỏ cũng có tiếng nói lớn trong lĩnh vực này.
Khoảng 70% mỏ khai thác bitcoin nằm ở Trung Quốc được kết hợp trong hệ thống chung như AntPool. Nó như hình thức các cá nhân cùng liên kết với nhau làm việc để khai thác các khối giúp thời gian giải mã thuật toán nhanh hơn.
Vào tháng 8, những bất đồng trong việc cố gắng tăng tốc giao dịch bitcoin đã dẫn tới việc một số thợ mỏ đã chia tách tiền ảo do lo ngại giảm lợi nhuận.
Tới tháng 9, thị trường nhận tin sốc khi giới chức Trung Quốc tuyên bố cấm tiền ảo bitcoin nhằm tránh tình trạng đầu cơ tràn lan vào các dự án gây quỹ tiền ảo ICO.
Giữa những rối ren đó, Nhật Bản bất ngờ vượt qua Trung Quốc để trở thành thị trường bitcoin lớn nhất dựa trên lượng tiền giao dịch.
Chủ tịch Yoshitaka Kitao của SBI nói: “Chúng tôi sẽ tìm cách giải quyết những vấn đề tồn đọng mà các nhà tổ chức Trung Quốc đã nhắc đến nhiều”.
GMO và DMM.com đã công bố kế hoạch tham gia thị trường khai thác tiền ảo vào đầu tháng 9, trong khi SBI và Monex Group cũng rục rịch nối gót.

Nên nhớ, GMO và SBI đã có sàn giao dịch tiền ảo, họ hy vọng sẽ tạo được sức mạnh tổng hợp khi tham gia đào coin.
Theo startup Blockchain của Anh, trung bình thợ mỏ trên thế giới kiếm được 7,8 triệu USD mỗi ngày, gấp 10 lần so với 2 năm trước.
Hơn nữa, thế giới có hơn 1.000 loại tiền ảo và chúng được phục vụ theo nhiều mục đích, từ đầu tư, thanh toán cho đến tài chính. Các công ty chứng khoán trực tuyến kỳ vọng sẽ giữ vai trò quan trọng trong một thị trường có tốc độ tăng trưởng cao như vậy.
Bài toán đặt ra là làm sao quản lý hệ thống hiệu quả, giảm thiểu chi phí xuống thấp nhất. Tháng 8, SBI đã thành lập đơn vị khai thác tiền ảo mới với việc đặt cơ sở hạ tầng bên ngoài Nhật Bản nơi có giá điện rẻ. Trong khi đó, Monex lại có kế hoạch phát hành đồng tiền ảo riêng và tự khai thác nó.
GMO dự kiến đầu tư 10 tỷ yên (89 triệu USD) cho mỏ đào coin vào nửa đầu năm 2018. Công ty sẽ xây dựng hệ thống máy chủ đặc biệt ở Scandinavia vì ở đây có nguồn năng lượng tái tạo rẻ và thời tiết lạnh. Riêng DMM.com dự kiến đầu tư 10 tỷ yên cho công cuộc của mình.


(Theo Tri Thức Trẻ)

Thứ Năm, 21 tháng 9, 2017

Hiến pháp 2013 về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam


Hiến pháp 2013 về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam


(LLCT) - Khi bàn về nhà nước pháp quyền, trong giới nghiên cứu khoa học chính trị vẫn còn những quan điểm khác nhau: Loại quan điểm thứ nhất cho rằng, Nhà nước pháp quyền là một loại hình nhà nước (một kiểu nhà nước)(1) -với quan điểm này, có thể hiểu, trên thế giới chỉ có một loại hình nhà nước pháp quyền; loại quan điểm thứ hai cho rằng, Nhà nước pháp quyền là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ.Từ đó, khẳng định không chỉ có nhà nước pháp quyền tư sảnmà có cả nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (2).


Nhìn chung các khảo cứu về nhà nước pháp quyền đều thống nhất khẳng định các tiêu chí hay đặc điểm cơ bản như sau: 1) Luật pháp giữ vị trí tối cao đối với nhà nước và xã hội; 2) Nhân dân là chủ thể quyền lực nhà nước; 3) Nhà nước đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân; 4) Có sự phân quyền rõ ràng giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; 4) Nhà nước có khả năng cao nhất trong việc chống lại xu hướng độc quyền về quyền lực và xu hướng quan liêu hóa bộ máy quyền lực(3)…

Hiến pháp là đạo luật cơ bản có giá trị pháp lý cao nhất của các quốc gia, quy định về chế độ chính trị - xã hội, chế độ nhà nước và các nguyên tắc cơ bản về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước; quy định địa vị pháp lý của con người, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân... So sánh với các bản Hiến pháp trước đây trên cơ sở những nhận thức chung như vậy, có thể thấy những điểm mới của Hiến pháp 2013 về Nhà nước pháp quyền ở Việt Namnhư sau:

1) Về bản chất Nhà nước Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân (Khoản 1, Điều 2)(4).

Nhìn lại lịch sử Hiến pháp Việt Nam kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cho thấy tiến trình vận động về thể chế nhà nước Việt Nam như sau: Hiến pháp năm 1946, quy định: Nước Việt Nam là “nước dân chủ cộng hòa”; Hiến pháp năm 1959, quy định, là “nước dân chủ nhân dân”; Hiến pháp năm 1980 quy định là “Nhà nước chuyên chính vô sản”; Hiến pháp năm 1992 quy định là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(Điều 2). Năm 2001, Điều 2 của Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung bằng quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”(5).

Như vậy, về mặt pháp lý,Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam chính thức được quy định trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Đã sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25-12-2001 của Quốc hội).Và quy định này được nhắc lại trong Hiến pháp năm 2013.

Bàn về phát triển tư duy nhà nước pháp quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, có ý kiến cho rằng phải đến Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), Đảng mới dùng khái niệm Nhà nước pháp quyền (NNPQ), vì “băn khoăn chủ yếu là coi nhà nước pháp quyền là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản nên ngại tiếp thu, kế thừa”(6. Nhưng thực tế cho thấy, một tháng sau khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng kết thúc, vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền đã được Tổng Bí thư Đỗ Mười chính thức đề cập trong bài phát biểu tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII (ngày 27-7-1991), như sau: “Quốc hội cần hướng vào việc thực hiện hai yêu cầu cơ bản: Một là,xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước có năng lực định ra một hệ thống luật pháp đồng bộ đáp ứng được yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội và quản lý mọi mặt xã hội văn minh, tiến bộ... Hai là,bảo đảm quyền lực và hiệu lực trên thực tế của Quốc hội, do Hiến pháp quy định”(7). Hơn hai năm sau, Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1-1994) nêu chủ trương “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật”(8).

Từ đó, cho thấy: Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam đã được Đảng Cộng sản Việt Nam, với tư cách là Đảng chính trị cầm quyền, chính thức đặt ra và chỉ đạo triển khai vào nửa cuối năm 1991.Sau đó được tiếp tục quán triệt thực hiện qua các kỳ đại hội Đảng và hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng; đặc biệt là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội(Bổ sung, phát triển năm 2011), đã xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dânlà một trong tám phương hướng cơ bản nhằm xây dựng Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa(9).

2) Về chủ thể của quyền lực nhà nước, Hiến pháp năm 2013, quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (Khoản 2, Điều 2)(10[1]). Quy định này đã phản ánh địa vị chính trị - pháp lý của nhân dân Việt Nam là chủ thể của quyền lực trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước; các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Những quy định nêu trên tạo cơ sở hiến định cho việc tiếp tục thể chế hóa các luật có liên quan về quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.

Các Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992, với những cách diễn đạt khác nhau, đều quy định quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân(*). Nhưng phải đến Hiến pháp năm 2013 mới quy định cụ thể cơ chế để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước của mình; đó là, dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện; là các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải chịu sự giám sát của nhân dân; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân...

3) Về vấn đề phân quyền giữa các cơ quan quyền lực nhà nước, Khoản 3, Điều 2 Hiến pháp năm 2013, quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(11).

Trước đó, Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi, bổ sung năm 2001), đã có quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(12). Đến Hiến pháp năm 2013, được bổ sung thêm hai từ “kiểm soát”, với ý nghĩa là kiểm soát quyền lực.Đây là lần đầu tiên “kiểm soát quyền lực” được coi là nguyên tắc hiến định, là cơ chế để các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp thực thi có hiệu lực, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tránh việc lợi dụng, lạm dụng quyền lực.

Hiến pháp năm 2013 quy định rõ thẩm quyền của các nhánh quyền lực trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, như: Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp; Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội; Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp(13).

Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã có sự phân công (phân quyền) khá rõ ràng giữa các nhánh quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam “là cơ sở quan trọng để các cơ quan phối hợp với nhau nhịp nhàng hơn. Đồng thời, một cơ chế kiểm soát quyền lực đã được xác định, trong đó quyền của nhân dân với tư cách là chủ nhân của tất cả quyền lực Nhà nước được đề cao, các hình thức dân chủ được mở rộng. Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên được khẳng định”(14).

4)Về vị trí của pháp luật đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ (Khoản 1, Điều 8); các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam - với tư cách là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật (Khoản 3, Điều 4); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội khác hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật (Khoản 3, Điều 9)(15).

Trước đó, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 cũng đã có quy định: Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật(16). Tuy nhiên, so với Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, cho thấy những quy định trong Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện mạnh mẽ hơn sự đề cao vị trí của Hiến pháp và pháp luật. Tính pháp chế trở thành một trong những đặc trưng cơ bản của nhà nước Việt Nam, thể hiện bước phát triển tư duy chính trị - pháp lý về nhà nước pháp quyền của Hiến pháp năm 2013.

Trong quan hệ với cộng đồng thế giới, Hiến pháp năm 2013 quy định:Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuân thủ Hiến chương Liên Hợp quốc và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới (Điều 12)(17). Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Hiến pháp Việt Nam kể từ năm 1945, vấn đề tuân thủ Hiến chương Liên Hợp quốc và điều ước quốc tếđược quy định trong Hiến pháp Việt Nam(18).

5) Về vấn đề quyền con người, quyền công dân,Hiến pháp năm 2013 quy định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật (Khoản 1, Điều 14); mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Khoản 1, 2, Điều 16)(19).

So với các Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, như: khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người; làm rõ nội dung quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa và trách nhiệm của Nhà nước, xã hội trong việc tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người; thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân. 

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hàm chứa những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền nói chung. Nhưng bên cạnh đó, mô hình này cũng có những điểm đặc thù như: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước([1]20); và một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng Hiến pháp là thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng(21[1]). Từ đó đặt ra vấn đề là phải xác định một cách khoa học mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và hiệu quả lãnh đạo của Đảng như thế nào để bảo đảm hiệu lực và hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Điều này đòi hỏi phải đổi mới hơn nữa phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2015

(1) Xem thêm: Nguyễn Khắc Viện (Chủ biên): Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1994, tr.207-208.

(2) Xem thêm: GS,Viện sĩ Nguyễn Duy Quý: “Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Triết học,số 11 (198), 2007.

(3) Ngoài ra có ý kiến cho rằng, Nhà nước pháp quyền có những đặc tính như: 1) Tính tối cao của Hiến pháp; 2) Nhà nước pháp quyền có mục tiêu đảm bảo quyền tự do và bình đẳng của con người, đối lập với nhà nước bạo lực, nhà nước độc tài; 3) Nhà nước pháp quyền là nhà nước chống lạm quyền, nhà nước phải được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền. Xem thêm: PGS,TS Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên): Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền,Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2007, tr.63-67. 

(4), (10), (11), (13), (15), (17), (21) Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.8, 8, 9, 32 và 49 và 54-55, 10-11-12, 13, 8.

(5), (12), (16) Trích từ: Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và các Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992),Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.199, 199, 72-73 và 128-129.

(6) Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Triết học: Nhà nước pháp quyền một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2012, tr.536.

(7) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Lưu hành nội bộ, 1-1994, tr.56.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.340.

(9) ĐCSVN: Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.72.

(*) Hiến pháp năm 1946 quy định: Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo; Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia; Hiến pháp năm 1959, quy định: Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều thuộc về nhân dân; Hiến pháp năm 1980, quy định: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân (Điều 6); Hiến pháp năm 1992, quy định:Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức (Điều 2), Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và các Hiến pháp Việt Nam (1946,1959,1980,1992), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.12, tr.15, tr.31, tr.70, tr.125.

(14) Hoàng Thế Liên: Những điểm mới của Hiến pháp (sửa đổi) về Chính phủ, truy cập ngày 25-03-2014, http://www.nhandan.com.vn.

(18) Từ Hiến pháp năm 1980 mới có quy định về quan hệ của nước Việt Nam với cộng đồng quốc tế, nhưng không đề cập vấn đề tuân thủ Hiến chương Liên Hợp quốc và điều ước quốc tế.

(19) Trong Hiến pháp năm 2013 các quyền con người, quyền công dân được quy định một cách cụ thể: Mọi người có quyền sống, tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật (Điều 19); mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm (Điều 20); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư (Điều 21); công dân có quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22); mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Điều 24); công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 25); công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt (Điều 26); công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp (Điều 32); quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34); công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc (Điều 35); quyền kết hôn và ly hôn (Điều 36); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41), quyền xác định dân tộc (Điều 42), quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43)... Trích trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.14,15, 16-23.

(20) Điều 4 của Hiến pháp năm 2013, quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.9.


PGS, TS Đinh Xuân Lý
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
Đại học quốc gia Hà Nội