Công ty Luật Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 334 Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Điện thoại: 0911666884- 0924.488.884.

Công ty Đấu giá Kim Trọng Hùng Kính chào Các bạn

Địa chỉ: 07 Khúc Hạo, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng

Kim Trọng Hùng Group Kính chào Các bạn

Đồng sáng lập: LS Vũ Trọng Kim và LS Nguyễn Cao Hùng. Website:luatkimtronghung.com.

Luật sư Vũ Trọng Kim-CT Hội cựu TNXP

Ủy viên trung ương ĐCS khóa VIII, IX, X, XI. Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XIII, XIV.

Luật sư Nguyễn Cao Hùng-Giảng viên thỉnh giảng Luật Đầu tư

Tác giả sách: 200 câu hỏi đáp về Khiếu nại, tố cáo. Đồng tác giả sách: Bình luận KH BLTTHS 2015-XNB CAND

Thứ Năm, 17 tháng 5, 2018

06 PHƯƠNG PHÁP TIẾP THỊ SỐ Ở VIỆT NAM NĂM 2018

 06 PHƯƠNG PHÁP TIẾP THỊ SỐ Ở VIỆT NAM NĂM 2018

Theo số liệu của We Are Social năm 2017 trong khi Việt Nam có hơn 50 triệu người dùng truy cập internet thì trong đó có hơn 47 triệu người dùng cũng đồng thời truy cập internet bằng các thiết bị di động. Theo số liệu từ Facebook đến tháng 03/2017 thì Việt Nam có hơn 50 triệu người dùng internet, trong đó có 42 triệu người có tài khoản facebook (chiếm 85% người dùng internet) mà trong đó 93% người dùng thường xuyên truy cập mạng xã hội bằng điện thoại di động.

Trong khi đó, báo cáo từ Google và comScore thì cho thấy rằng: có hơn 40 triệu người dùng Việt Nam truy cập internet bằng điện thoại di động & dự kiến đến 2020 số lượng này là hơn 60 triệu người, do phí 3G của Việt Nam thuộc hàng rẻ nhất khu vực Đông Nam Á. Ngoài ra, người dùng Việt Nam chính là những người xem Youtube nhiều nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, không phải là Nhật, Hàn, Sing, Đài … mà là người dùng Việt Nam với trung bình một người dùng 45 phút xem youtube mỗi ngày.


Vậy việc xem trọng các hình thức tiếp thị trên các thiết bị di động (Mobile First) không còn là xu hướng nữa, mà đó là một việc làm bắt buộc mà khi nghĩ tới digital thì buộc phải nghĩ đến mobile kèm theo. Sự tăng trưởng này cũng góp phần lớn vào việc thay đổi hành vi người dùng internet hiện nay & trên hết là tác nhân tạo ra một số xu hướng mới trong các năm tiếp theo. Cuộc cách mạng số đang mở ra cho doanh nghiệp những cơ hội mới để tiếp cận khách hàng với chi phí rẻ hơn, dễ dàng thực hiện các chiến dịch digital marketing hấp dẫn, tương tác thời gian thực với khách hàng, nhanh chóng và hiệu quả cùng một lúc. 6 phương pháp tiếp thị số ở Việt Nam như sau:

1. ĐA KÊNH LIÊN KẾT (OMNICHANNEL):
Omnichannel là thuật các bên về e-commerce tại Việt Nam lẫn những bên cung cấp khác như Magento, Smartosc,.. đều ra sức thực hiện các hội thảo educated thị trường về Omnichannel (hay còn gọi là Online to Offline). Năm 2018 cả Google lẫn Facebook cũng sẽ cung cấp những giải pháp chi tiết về cách họ theo dõi lượt truy cập, hành trình của người dùng vào cửa hàng từ online tới offline (O2O), để các doanh nghiệp hiểu cách thức phân bổ này hoạt động và bắt đầu sử dụng nó như một KPI quan trọng trong tiếp thị trực tuyến.

Omnichannel là Đa kênh Liên kết, khác với MultiChannel, giúp phối hợp các kênh bán hàng cả online lẫn offline một cách thống nhất, giúp tăng độ phủ sóng thương hiệu và giúp doanh nghiệp quan tâm đến khách hàng nhiều hơn, tạo cho khách hàng sự trải nghiệm đồng nhất ở tất cả các kênh bán hàng, từ đó không chỉ giúp nâng cao giá trị nhãn hiệu mà còn thúc đẩy doanh số, tiết kiệm chi phí.
Hiện nay 80% doanh thu bán lẻ của Việt Nam đang đến từ các cửa hàng bán lẻ, nhưng tỷ lệ doanh thu từ thương mại điện tử đang có xu hướng tăng nhanh do thói quen mua sắm của người tiêu dùng thay đổi, việc này phần lớn được tác động bởi công nghệ ngày càng phát triển. Do đó, nếu phối hợp các kênh bán hàng trực tuyến với bán lẻ trực tiếp, sẽ giúp tối đa hóa miếng bánh doanh thu. Quan trọng nhất là luôn đặt khách hàng ở trọng tâm.
Và theo nghiên cứu thì Omnichannel giúp các công ty giữ lại 89% khách hàng, gấp hơn hai lần so phát triển từng kênh bán lẻ riêng biệt. Nên việc sử dụng Omnichannel sẽ là xu hướng và chắc chắn ngày càng được sử dụng rộng rãi là điều tất yếu, đặc biệt là với các bên bán lẻ, e-commerce.

2. XÂY DỰNG DMP NỘI BỘ (BUILD DMP IN-HOUSE)
Ngày nay, hầu hết tất cả các marketer đều hiểu tầm quan trọng của dữ liệu người dùng (user data), hầu như tất cả các chiến lược, chiến thuật tiếp thị đều xoay quanh cốt lõi dữ liệu người dùng. Nếu một nhà tiếp thị có được dữ liệu người dùng chính xác, được phân loại (segmentation) kỹ càng thì có thể giúp hiểu được hành vi khách hàng chính xác, giúp vẽ được lộ trình khách hàng (customer journey) rõ ràng, từ đó giúp các nhà tiếp thị cần phải sử dụng những giải pháp gì để tiếp cận khách hàng cho hiệu quả. Đặc biệt trong bối cảnh mọi việc đều được xử lý, phản hồi theo thời gian thực ngày càng quan trọng thì việc có được & kết hợp dữ liệu với các công cụ phù hợp cũng sẽ rất quan trọng.
Do đó, việc sử dụng DMP (data management platform – nền tảng thu thập quản lý phân tích dữ liệu) trong digital marketing một việc tất yếu với lý do như sau:
- Các brands đều thấy tầm quan trọng của dữ liệu nhưng hầu hết hiện nay các brands khi thực hiện các chiến dịch đều thông qua các agencies hoặc nếu tự thực hiện (media in-house) thì đều sử dụng nền tảng của bên thứ 3 như Google, Facebook … Lúc này, dữ liệu nếu thu được đều thuộc sở hữu của bên khác – những bên sở hữu nền tảng hoặc các agencies, trong khi chính các brand là người chi tiền nhưng hầu như không được sở hữu.
- Hoặc nếu có thu và sở hữu được dữ liệu thì các brands cũng không thể đồng bộ hóa dữ liệu đa nền tảng (Universal Cookies Sync) từ dữ liệu online, dữ liệu offline … bao gồm cả dữ liệu từ CRM lại với nhau, không thể phân tích để định danh người dùng một cách chính xác, giúp phân loại chính xác, hiểu được hành vi, thói quen, hành trình người dùng, … thậm chí là cả dự định để giúp tiếp cận chính xác hơn, tạo ra hiệu quả cao hơn.
- Theo một nghiên cứu gần đây của IDC Research thì một doanh nghiệp sở hữu DMP, hiểu được khách hàng rõ ràng chính xác thì có thể giúp họ cải tiến qui trình, giúp ra quyết định tốt gấp 3 lần so với các bên không sở hữu.

- Một lý do trong quá trình tư vấn cho khách hàng là hơn 90% chủ doanh nghiệp, các quản lý cấp cao tại các brands đều nhận thấy & trăn trở việc họ không thể khai thác tối đa cơ hội từ dữ liệu có sẵn trong CRM của chính các brands.
Do đó, việc xây dựng & sở hữu DMP nội bộ chắc chắn là xu hướng trong thời gian tới, có lẽ là cuộc chơi của những người khổng lồ. Ở Việt Nam hiện tại có thể nêu ra vài brand đã và đang xây dựng, sở hữu DMP nội bộ như: Unilever, P&G, Carlberg Beer, và một vài brand thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng.

3. VIDEO DỌC (VERTICAL VIDEO)
Cisco System dự báo đến 2020 thì việc đăng, xem và tải video chiếm 80% lưu lượng internet toàn cầu. Năm 2017 là gần 70% với việc đăng, xem & tải video chiếm gần 50.000 petabyte so với tổng lưu lượng internet toàn cầu là 67.671 petabyte. Cứ mỗi phút có 18.000 phút video được đăng lên Youtube. Người dùng hiện nay, đặc biệt thế hệ Millenials và các thế hệ sau nữa xem Youtube và các nền tảng phát trực tuyến (streaming) nhiều hơn xem TV. Với Facebook hiện đăng phục vụ hơn 8 tỷ lượt xem video một ngày, trong khi con số ở Youtube là hơn 10 tỷ lượt xem một ngày. Vì thế, Facebook, Twitter đang  ngày càng cung cấp nhiều các giải pháp quảng cáo video và cả việc đăng tải video lên newfeed. Và cũng không có gì ngạc nhiên khi sử dụng video là xu hướng tiếp thị.
Theo báo cáo của Google người dùng Việt Nam là đối tượng xem Youtube nhiều nhất khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, và đứng thứ 5 trên thế giới về việc tiêu tốn thời gian cho Youtube. Họ xem chương trình truyền hình (TV shows), phim, clip âm nhạc & các nội dung phát trực tuyến được thực hiện bởi người dùng khác (live-stream). Tỷ lệ người dùng chú ý đến quảng cáo bằng video (gần 70%) cao hơn so với quảng cáo bằng banner (hơn 51%).
Khác với việc các TVC được dùng cho TV (thường thời lượng là 30s; có âm thanh; nút thắc quyết định, thông điệp, brand xuất hiện cuối TVC), với video dùng cho tiếp thị trực tuyến thì do thói quen người dùng đã thay đổi, dường như người dùng trên môi trường trực tuyến vội vàng hơn, cụ thể theo số liệu từ Google thì một người dùng chỉ dừng 3 giây (tối đa là 5 giây) tại một mẫu video quảng cáo trước khi quyết định nhấn “bỏ qua” hoặc xem tiếp; con số này với số liệu được cung cấp từ Facebook càng thấp hơn nữa đó là một người dùng chỉ dừng tối đa tại một mẫu quảng cáo 1,25 giây trước khi quyết định lướt qua nó.
Vì vậy thách thức đặt ra với các bên sử dụng video trong tiếp thị là phải tạo ra được video bao gồm các tiêu chí sau:
- Thu hút nhanh (Attention Quickly): Hãy bắt đầu với những khoảnh khắc quyến rũ, thu hút, ấn tượng nhất từ đầu để hạn chế việc người dùng “Bỏ qua” khi xem mấy giây đầu tiên. Video có thể 30 giây nhưng phải truyền tải được thông điệp & brand trong vòng 5 giây.
- Sound Off: Vẫn hiểu được thông điệp từ video truyền tải trong trường hợp có âm thanh hoặc tắt âm thanh.
- Hãy cố gắng tạo ra câu chuyện bằng thị giác (visual story) và đa phần người dùng xem video khi online bằng điện thoại nên hãy tìm hiểu thêm hình thức video dọc (vertical video) việc này giúp tăng trải nghiệm người dùng.
Video thông thường (Horizontal Video - video ngang) có tỉ lệ hiển thị là 16:9 thậm chí hiện nay với các dòng điện thoại thông minh đời mới thì tỉ lệ hiển thị là 18:9 - đó là với video thông thường, còn với Vertical Video thì tỉ lệ hiển thị sẽ là 9:16 hoặc 9:18 với các dòng điện thoại thông minh mới.
Với việc đa phần người dùng xem video trên internet và truy cập trực tuyến là thế hệ Millenials bằng điện thoại thông minh & đây cũng là thế hệ có xu hướng xác thực và họ dễ tin vào những gì được streaming trực tiếp nên một mảng của video nhờ đó phát triển vũ bão đó là: Live-Streaming.
Theo Facebook, một người dùng Việt Nam thường dành 3 lần để xem 1 đoạn streaming so với chỉ 1 lần cho video thông thường. Và hầu hết những người streaming thường phát với video dọc (vertical video).
Cùng với sự phát triển của video, của streaming và với thói quen sử dụng điện thoại khi truy cập trực tuyến thì để nhằm tận dụng lợi thế của video và tăng trải nghiệm người dùng các nhà phát triển cung cấp giải pháp đã và đang cung cấp các giải pháp Vertical Video. Vậy Vertical Video chắc chắn sẽ là một xu hướng, và hiện tại ở Việt Nam hình thức vertical video này đã dùng cho tiếp thị như Vietnam Airlines …
4.TÍCH HỢP (INTEGRATED)
4.1 Tích hợp các công cụ digital vào kế hoạch marketing tổng thể (IMC – Integrated Marketing Communications)
IMC là điều các marketer bắt buộc phải thực hiện, đặc biệt là với các nhãn hàng FMCG. Một kế hoạch IMC bao gồm sự kết hợp rất nhiều kênh, nhiều phương thức khác nhau một cách đồng nhất như: TV, Print Ads, Pr, Activation … và tùy theo brand, mục tiêu, đối tượng, ngân sách mà họ có thể thêm hoặc bớt một vài kênh hoặc một phương thức nào đó khi lập kế hoạch IMC.
Việc tích hợp các công cụ digital vào một kế hoạch marketing tổng thể, theo báo cáo của Google thì hiện nay chỉ có 7% các doanh nghiệp Việt Nam đã từng hoặc đang sử dụng các công cụ digital phục vụ cho các kế hoạch marketing, đa phần là các SMEs. Một con số rất nhỏ so với tổng số lượng doanh nghiệp tại Việt Nam đến cuối 2016 theo VCCI là gần 700.000 doanh nghiệp. Trong khi đó việc kết hợp đồng nhất giữa các kênh truyền thống và digital mang lại hiệu quả rất tốt (theo SmartInsight là hơn 60%).
Ngoài ra việc hiện nay hầu hết các doanh nghiệp đều có một mong muốn là vươn ra thế giới (go global) thì không có công cụ nào có thể giúp các doanh nghiệp có được độ phủ rộng rãi, chính xác, nhanh chóng như digital. Và với việc tiếp cận các công cụ digital, xây dựng một team media nội bộ phụ trách rất dễ dàng, chủ động nên việc tích hợp digital vào kế hoạch marketing tổng thể chắc chắn là xu hướng và ngày càng trở nên tất yếu khi marketer lên kế hoạch marketing.
4.2 Tích hợp hành trình khách hàng (Customer Journey) cùng với các hoạt động marketing
Hầu hết các marketer hiện nay đều trăn trở một điều là làm sao ngày càng nâng cao được hiệu quả của các chiến dịch tiếp thị quảng cáo trong bối cảnh cả bên client/brand lẫn bên agency đều nói về PERFORMANCE BASED ADS (PERFORMANCE MARKETING). Để làm được điều này thì marketer phải đứng ở quan điểm của người dùng, hiểu được insight của người dùng, hiểu được hành vi, lộ trình của họ; từ đó mới có thể lập được bản đồ hành trình khách hàng của từng nhóm khách hàng khác nhau, thậm chí là từng khách hàng khác nhau nhằm giúp biết được công cụ nào phù hợp để tiếp cận khách hàng trong từng giai đoạn cụ thể. Việc này một lần nữa cho thấy tầm quan trọng của DMP như trends 2 chúng tôi đã nêu ở trên.
Việc tích hợp hành trình khách hàng (customer journey) vào kế hoạch marketing giúp chúng ta hiểu được tại mỗi điểm tiếp xúc (touchpoint) thì chúng ta cần sử dụng công cụ gì để tiếp cận cho phù hợp (paid, owned, earned media). Sau đó, các marketer/advertiser cần tổng hợp phân tích, tối ưu nhằm giúp theo sát người dùng hơn, tăng trải nghiệm cho người dùng, tăng tính liên quan của quảng cáo, phản ứng kịp thời với những vấn đề phát sinh. Và trên hết là tăng hiệu quả quảng cáo, tăng hiệu quả tiếp thị, giúp hỗ trợ bán hàng hoặc tăng doanh thu tốt hơn.
5. CÁ NHÂN HÓA TRẢI NGHIỆM NGƯỜI DÙNG (PERSONALIZE THE USER EXPERIENCE)
Cũng với trăn trở về performance của các marketer, các advertiser, các brands, thậm chí là các PUBLISHER thì việc hiểu được mong muốn, nhu cầu, insights của từng khách hàng để tối ưu từng mẫu quảng cáo, từng thông điệp, từng giao diện người dùng (UI) của web, từng mẫu tin … được đưa tới từng người dùng sao cho phù hợp và có tính liên quan nhất đến từng cá thể khách hàng, hoặc ít nhất cũng là phù hợp với từng tập khách hàng đã được phân loại (segmentation) kỹ càng.
Vậy chúng ta cần phải thực hiện được việc cá nhân hóa trải nghiệm người dùng nhằm đạt hiệu quả tiếp thị (performance marketing). Có 3 cấp độ thực hiện & đặc biệt là dù brand có nhiều ngân sách hay ít ngân sách đều có thể thực hiện được tất cả các cấp độ hoặc ít nhất là ở cấp độ đầu tiên:
- Cấp 1 - A/B Testing & Tối ưu hóa: một marketer hãy mạnh dạn thử (test) mọi thứ, thử nghiệm đa biến nếu có thể liên tục, phân tích kết quả, rút kinh nghiệm hay rút ra được mẫu số chung, sau đó tối ưu chiến dịch. Không nên tự suy nghĩ, phỏng đoán thay cho người dùng. Keyword ở phần này là: Testing everything, assume nothing.
- Cấp 2 -Phân loại (Segmentation): Sau khi đã test và thu được lượng dữ liệu đủ thì sẽ tiến hành phân loại khách hàng theo từng tập/nhóm khách hàng cụ thể (có thể theo nhân khẩu, hành vi, sở thích, nhu cầu, … thậm chí là dự định). Việc này có thể tiến hành một cách thủ công hoặc có sự trợ giúp của máy móc hoặc các bên có sở hữu nền tảng thu thập & phân tích dữ liệu. Sau đó, chúng ta tiến hành nhắm chọn (targeting) hoặc tái nhắm chọn (re-targeting) đến từng tập/nhóm khách hàng với những nội dung và creative phù hợp nhằm tăng tính liên quan và giúp tăng t lệ chuyển đổi (conversion rate).
- Cấp 3 – Cá nhân hóa (Personalization): ở cấp độ này chúng ta sử dụng công nghệ để cung cấp trải nghiệm cá nhân đến từng cá thể người dùng với những mong muốn hoàn toàn khác nhau, vẫn sử dụng một số nguyên tắc tương tự như phần Tối ưu hóa hay phần Phân loại nhưng có một số khác biệt, kiểu như cung cấp dịch vụ private 1-1. Cấp độ này cần rất nhiều đến sức mạnh công nghệ, những nền tảng mạnh mẽ và trên hết là cần đến sự lợi hại của DMP.
Xu hướng này rất phù hợp với bên bán lẻ; các sản phẩm tài chính, tiêu dùng; các app: ở Việt Nam có app tin tức TIN8 – all new in one app hiện đang sử dụng DMP để cung cấp cho người dùng những trải nghiệm được cá nhân hóa. Và để thực hiện hoàn chỉnh thì cần rất nhiều đến công nghệ, ngân sách.
6. NGƯỜI NỔI TIẾNG & NGƯỜI CÓ SỨC ẢNH HƯỞNG TRONG PHẠM VI NHỎ (INFLUENCER & MICRO-INFLUENCER)
Trong những năm vừa qua, sự tăng trưởng rõ rệt trong trong việc sử dụng Influencer trong quảng cáo tiếp thị, đặc biệt là trên các phương tiện truyền thông mạng xã hội (social network). Đây là một phương thức tiếp thị rất hiệu quả, ít nhất là ở việc tối ưu chi phí, nhưng lại có thể dễ dàng tiếp cận được những đối tượng có sự liên quan và có tính tương tác rất cao. Tuy nhiên, dù năm 2018 vẫn sẽ là một năm phát triển mạnh mẽ của hình thức này nhưng đang có một sự dịch chuyển ngày càng rõ rệt về sự tin tưởng chất lượng sản phẩm, tương tác của người tiêu dùng từ những KOLs (người nổi tiếng) hay Influencer sang những Micro-Influencer, thậm chí là sự dịch chuyển từ chính các nhãn hàng (brand) hoặc các doanh nghiệp nhỏ vì lý do chi phí phù hợp hơn.
Micro-Influencer thực chất chính là những người có lượng người dùng theo dõi (follow) thấp. Họ có thể là tất cả những người bạn biết, ở mọi ngành nghề lĩnh vực, từ những blogger đến những người chỉ là người bình thường hoặc những người đã xây dựng sự theo dõi trung thành trên truyền thông xã hội. Nhưng lượng người dùng theo dõi không phải là chỉ số duy nhất để tạo nên người có tầm ảnh hưởng nhỏ (Micro-Influencers). Cũng giống với những người có ảnh hưởng thường xuyên (Influencers), con số người dùng tương tác là điều thực sự quan trọng. Sự tương tác chính là cái cho thấy khán giả của họ thật sự quan tâm đến người đó, họ quan tâm đến quan điểm và ý kiến của người đó và họ lắng nghe người đó.
Nếu bạn đang nghĩ về việc sử dụng những người có ảnh hưởng (Influencers) để tiếp thị, quảng cáo cho doanh nghiệp, sản phẩm của bạn, thì những người có ảnh hưởng nhỏ (Micro-Influencers) là một sự lựa chọn rất tốt để bắt đầu, đặc biệt nếu bạn có một doanh nghiệp nhỏ hoặc nếu bạn là một doanh nhân đơn thuần hoặc người giải quyết bài toán tài chính hạn hẹp cho nhãn hàng. Những người có ảnh hưởng nhỏ (Micro-Influencers) có một lượng người xem nhỏ hơn nhiều thì không có nghĩa những người có ảnh hưởng nhỏ không thể tạo nên tác động khổng lồ trong thành công của bạn.
Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có tới 70-80% network bạn bè của một người trên mạng xã hội có những hành vi, sở thích, .. tương tự như người đó. Và người tiêu dùng có xu hướng tin tưởng sử dụng những sản phẩm mà bạn bè của họ gợi ý, đề cập, chia sẻ hơn là từ những người nổi tiếng, những Influencer đích thực; đơn giản là vì đa phần người dùng nghĩ các Influencer nhận tiền để quảng cáo cho sản phẩm, thì cũng đa phần người dùng tin những chia sẻ đích thực từ chính những trải nghiệm của bạn bè họ, rằng đó không phải là quảng cáo, họ có thể thấy đâu đó có sự liên quan đến chính họ trong những chia sẻ này.
Một số trường hợp, số lượng nhỏ nhóm người xem của những người có tầm ảnh hưởng nhỏ lại có những mục tiêu cụ thể hơn và họ tương tác tốt hơn, phần lớn bởi vì họ đang tạo ra sự quan tâm và theo đuổi mục tiêu thực sự rõ ràng hơn (trong khi người có ảnh hưởng lớn có thể có nhiều người theo dõi mới chỉ đơn giản bởi vì họ có nhiều người theo dõi và chính điều đó thu hút sự theo dõi của người khác). Những người có tầm ảnh hưởng nhỏ (Micro-Influencers) cũng dễ dàng để tác động, thu hút hầu hết người dùng tương tác và kết nối với họ hơn, trong khi những người có ảnh hưởng lớn sẽ không bao giờ có thể tác động đến tất cả những người theo dõi họ.

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2018

VỤ ÁN MOBIFONE-AVG

VỤ ÁN MOBIFONE MUA AVG

Ngày 25/12/2015, MobiFone ký hợp đồng với cổ đông AVG nhận chuyển nhượng 95% cổ phần AVG với tổng giá trị khoảng 8.889 tỉ đồng. Trong vòng 22 ngày sau, MobiFone đã thanh toán khoản tiền gần 8.445 tỉ đồng cho AVG.
Cuối năm 2015, MobiFone công bố việc mua lại AVG nhưng giá trị của thương vụ này không được tiết lộ. Tháng 11/2016, lần đầu tiên MobiFone công bố giá trị thương vụ này là 8.889 tỷ đồng. Việc thanh tra toàn diện việc MobiFone mua 95% cổ phần của Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu (AVG) đã bắt đầu từ tháng 9/2016.

A. TÓM TẮT VỤ ÁN MOBIFONE-AVG
Thương vụ xuất phát từ tháng 10/2014, khi AVG có văn bản gửi Bộ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông (4T), lúc đó là BT Nguyễn Bắc Son, về việc AVG chuyển nhượng cổ phần cho NĐT nước ngoài để trở thành cổ đông chiến lược, giá mua bằng 7 lần giá vốn, tức vào khoảng 525 triệu USD, tương đương 75% cổ phần. AVG đã nhận cọc 10 triệu $. Nhưng khi TTCP vào cuộc thì cả AVG và Bộ 4T đã không cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào về việc AVG đàm phán và nhận khoản đặt cọc 10 triệu $ với NĐT nước ngoài. Như vậy việc này là không có thật.
Sau đó, Bộ 4T đã yêu cầu Bộ Công an xem xét hướng dẫn AVG chuyển nhượng cổ phần. Ngày 8/12/2014, Bộ Công an có văn bản gửi Bộ 4T hướng dẫn AVG không được phép chuyển nhượng cho nước ngoài mà chỉ nên bán cổ phần cho NĐT trong nước.
Ngày 1/12/2014, Bộ 4T ra Quyết định 1798, thành lập Tổng công ty viễn thông MobiFone trên cơ sở tổ chức lại Công ty TNHH MTV Thông tin di động, bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh phát thanh truyền hình. Như vậy, ông Nguyễn Bắc Son đã ký quyết định bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh cho MobiFone sau khi xảy ra việc AVG chào bán cổ phần.
Ngày 27/1/2015, ông Lê Nam Trà, quyền Chủ tịch HĐQT MobiFone đã có văn bản trình Bộ 4T xin phê duyệt đầu tư dịch vụ truyền hình theo phương thức mua lại một hãng truyền hình kỹ thuật số. Và ngày 6/2/2015, Bộ TT-TT có Công văn số 408/BTTTT-QLDN thống nhất chủ trương theo đề xuất của MobiFone. Đến ngày 20/3/2015, MobiFone và AVG ký HĐ ghi nhớ việc mua bán cổ phần.
Sau đó, việc mua bán chuyển nhượng cổ phần có giá trị lên tới hàng ngàn tỉ đồng của nhà nước bị che kín bởi dấu tài liệu “mật”, toàn bộ quá trình đàm phán, đấu thầu, kể cả thẩm định giá. Đây là chiêu thức nhằm không ai biết, can thiệp vào việc người có chức vụ quyền hạn của MobiFone lấy tiền nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp thông đồng với tư nhân.
Việc MobiFone dù biết tình hình kinh doanh của AVG rất xấu (âm 50%VĐL, thua lỗ hàng ngàn tỷ đồng, các số liệu về dự án này thiếu cơ sở, kết quả thẩm định giá của các đơn vị thẩm định thiếu căn cứ,..) được báo cáo cho Bộ 4T, khi tiến hành thẩm định, lập và phê duyệt dự án, 4T tại văn bản số 5054/MOBIFONE ngày 14/9/2015, số 5441/MOBIFONE ngày 28/9/2015 và số 58/MOBIFONE ngày 25/9/2015 nhưng lãnh đạo Bộ 4T không chỉ gạt bỏ ý kiến phản biện của cấp dưới, báo cáo sai sự thật với Thủ tướng (NTD) về tình trạng bết bát của AVG. 
Cả khi ông Nguyễn Bắc Son ký quyết định thành lập tổ thẩm định (gồm 6 người) dự án, lãnh đạo 4T đã không tôn trọng ý kiến của các thành viên trong tổ, thậm chí gạt bỏ ý kiến phản biện. Tổ này họp vào ngày 8/10/2015, nhưng cuộc họp không ghi biên bản. Đáng lưu ý, 5 thành viên của tổ có báo cáo gửi tổ trưởng là ông Phạm Đình Trọng - Vụ trưởng Vụ Quản lý DN. Trong đó, Vụ trưởng Vụ Pháp chế có bản nhận xét nêu 2 ý kiến, trong đó nổi bật là nội dung phân tích để lựa chọn phương án mua cổ phần AVG thay vì đầu tư mới còn sơ sài, chưa đầy đủ thông tin cụ thể, cũng như chưa phân tích, so sánh ưu nhược điểm từng phương án.
Ngày 28.10.2015, ông Phạm Đình Trọng là tổ trưởng tổ thẩm định đã tham mưu để Bộ 4T ra Văn bản số 209/BTTTT-QLDN trình Thủ tướng xem xét chấp thuận chủ trương đầu tư với dự án đầu tư dịch vụ truyền hình của MobiFone. Trong đó ghi rõ: “Dự án đầu tư ra ngoài DN của MobiFone có mức đầu tư 8.900 tỉ đồng thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ” và kiến nghị Thủ tướng xem xét phê duyệt.Tuy nhiên, ông Nguyễn Bắc Son còn “bút phê” cho Thứ trưởng Trương Minh Tuấn (nay là bộ trưởng), lạm quyền ký luôn quyết định phê duyệt dự án thay cho Thủ tướng.
Ngoài ra, Phó cục trưởng Cục Báo chí ngày 15/10/2015 cũng có báo cáo nêu, dự án chưa có điều kiện đi sâu phân tích những lợi thế của AVG so với các DN nhà nước khác kinh doanh truyền hình. Đồng thời cảnh báo hiện có nhiều DN kinh doanh truyền hình đang thua lỗ và bị sụt giảm thị phần nghiêm trọng, dù tồn tại trên thị trường đã nhiều năm.
Tuy nhiên, tất cả ý kiến phản biện trên đã bị bỏ qua. Ngoài ra, Bộ 4T báo cáo nhiều nội dung của dự án không đúng, không đầy đủ, không khách quan với Chính phủ như: Việc đối tác nước ngoài mua AVG giá 700 triệu USD, đã đặt cọc 10 triệu USD; việc AVG sử dụng 4 băng tần có giá trị lớn và tạo ra lợi thế nhưng không được loại trừ ra khi định giá AVG...
Tháng 7/2017, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng đặt vụ Mobifone- AVG vào nhóm các vụ cần "khẩn trương thanh tra". Nhưng tiến trình được đẩy tới bước ngoặt sau khi Ban Bí thư Đảng Cộng sản, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tuyên bố hôm 8/03" đây là một vụ việc rất nghiêm trọng, phức tạp, nhạy cảm".
Sáng hôm 13/3 Bộ Thông tin và Truyền thông báo cáo Ban Bí thư, Thường trực Chính phủ, Tổng Thanh tra Chính phủ về thông tin hủy bỏ thỏa thuận chuyển nhượng cổ phần giữa Tổng Công ty Viễn thông MobiFone thuộc Bộ Thông tin - Truyền thông và Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn Cầu (AVG). 
Dư luận cũng đặt câu hỏi về vai trò của Bộ trưởng Thông tin - Truyền thông, Trương Minh Tuấn, trong việc giám sát thương vụ này. Hồi tháng 11/2017, Bộ trưởng Trương Minh Tuấn đã bị một đại biểu Quốc hội chất vấn về thương vụ Mobifone mua AVG. Trả lời đại biểu Lê Thanh Vân, ông Trương Minh Tuấn cho biết đến thời điểm đó, ông "chưa nhận được kết luận từ Thanh tra Chính phủ", dù công tác thanh tra đã tiến hành xong 15 tháng trước, theo báo Tuổi Trẻ.

Trước đó, vào tháng 6/2017, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty MobiFone Lê Nam Trà được chuyển về Bộ Thông tin - Truyền thông, còn Thứ trưởng Phạm Hồng Hải được cử sang tạm thời điều hành MobiFone. Sáng tháng 8, ông Hải trao quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Mạnh Thắng làm Chủ tịch Hội đồng thành viên Mobifone. Đến tháng 12/2017, ông Cao Duy Hải, Tổng Giám đốc MobiFone đã được lãnh đạo Bộ Thông tin - Truyền thông "cho phép nghỉ ốm để chữa bệnh".

B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ:

1. MOBIFONE MUA AVG CÓ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ (bao gồm luật quản ly, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp số 69/2014/QH13, Luật đầu tư năm 2014 số 67/2014/QH13, cùng ban hành ngày 26/11/2014, hiệu lực ngày 01/07/2015; và luật đầu tư công số 49/2014/QH13 ban hành ngày 18/6/2014 hiệu lực ngày 01/01/2015):

Điều 9 (luật 69). Hành vi bị cấm trong lĩnh vực đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp 
1. Quyết định đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp không đúng thẩm quyền, phạm vi, trình tự, thủ tục. 
2. Can thiệp không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vào hoạt động quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
3. Thực hiện không đúng quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước trong việc đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp. 
4. Thực hiện không đúng quy định về quản lý, sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và quản lý phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. 
5. Giám sát, kiểm tra, thanh tra doanh nghiệp không đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. 
6. Cung cấp thông tin, báo cáo không trung thực, không chính xác, không đầy đủ, không kịp thời theo quy định của pháp luật. 
7. Tiết lộ, sử dụng thông tin do doanh nghiệp hoặc cơ quan quản lý nhà nước cung cấp không đúng quy định của pháp luật.

Điều 28 (luật 69). Đầu tư ra ngoài doanh nghiệp 
1. Việc sử dụng vốn, tài sản, quyền sử dụng đất của doanh nghiệp để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp phải tuân thủ theo quy định của Luật này, quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan; phù hợp với chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển 05 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp. 
2. Hình thức đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp: 
a) Góp vốn để thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; góp vốn thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh không hình thành pháp nhân mới; 
b) Mua cổ phần tại công ty cổ phần, mua phần vốn góp tại công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; 
c) Mua toàn bộ doanh nghiệp khác; 
d) Mua công trái, trái phiếu. 
3. Các trường hợp không được đầu tư ra ngoài doanh nghiệp: 
a) Góp vốn, mua cổ phần, mua toàn bộ doanh nghiệp khác mà người quản lý, người đại diện tại doanh nghiệp đó là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của Chủ tịch và thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Kiểm soát viên, Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc, Phó Tổng giám đốc hoặc Phó Giám đốc, Kế toán trưởng của doanh nghiệp; 
b) Góp vốn cùng công ty con để thành lập công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. 
4. Thẩm quyền quyết định đầu tư vốn ra ngoài doanh nghiệp: 
a) Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định từng dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp với giá trị không quá 50% vốn chủ sở hữu được ghi trên báo cáo tài chính quý hoặc báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp tại thời điểm gần nhất với thời điểm quyết định dự án nhưng không quá mức vốn của dự án nhóm B theo quy định của Luật đầu tư công. 
Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phân cấp cho Tổng giám đốc hoặc Giám đốc quyết định các dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo quy định tại điều lệ hoặc quy chế tài chính của doanh nghiệp; 
b) Trường hợp dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp có giá trị lớn hơn mức quy định tại điểm a khoản này, dự án góp vốn liên doanh của doanh nghiệp với nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, dự án đầu tư vào doanh nghiệp khác để cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, phê duyệt.

Điều 5. Lĩnh vực đầu tư công
1. Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
2. Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
3. Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích.
4. Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư.

Điều 16 (luật 49). Các hành vi bị cấm trong đầu tư công
1. Quyết định chủ trương đầu tư không phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; không đúng thẩm quyền; không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; không cân đối được nguồn vốn đầu tư.
2. Quyết định đầu tư chương trình, dự án khi chưa được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc không đúng với chủ trương đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định. Quyết định điều chỉnh tổng vốn đầu tư của chương trình, tổng mức đầu tư của dự án trái với quy định của pháp luật về đầu tư công.
3. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt, vụ lợi, tham nhũng trong quản lý và sử dụng vốn đầu tư công.
4. Chủ chương trình, chủ đầu tư thông đồng với tổ chức tư vấn dẫn tới quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư chương trình, dự án gây thất thoát, lãng phí vốn, tài sản của Nhà nước, tài nguyên của quốc gia; làm tổn hại, xâm phạm lợi ích của công dân và của cộng đồng.
5. Đưa, nhận, môi giới hối lộ.
6. Yêu cầu tổ chức, cá nhân tự bỏ vốn đầu tư khi chương trình, dự án chưa được quyết định chủ trương đầu tư, chưa được phê duyệt hoặc chưa được bố trí vốn kế hoạch, gây nợ đọng xây dựng cơ bản.
7. Sử dụng vốn đầu tư công không đúng mục đích, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức theo quy định của pháp luật.
8. Làm giả, làm sai lệch thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan đến quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, triển khai thực hiện chương trình, dự án.
9. Cố ý báo cáo, cung cấp thông tin không đúng, không trung thực, không khách quan ảnh hưởng đến việc lập, thẩm định, quyết định kế hoạch, chương trình, dự án.
10. Cố ý báo cáo, cung cấp thông tin không đúng, không trung thực, không khách quan ảnh hưởng đến việc theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án.
11. Cố ý hủy hoại, lừa dối, che giấu hoặc lưu giữ không đầy đủ tài liệu, chứng từ, hồ sơ liên quan đến quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, triển khai thực hiện chương trình, dự án.
12. Cản trở việc phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về đầu tư công.

Điều 8 (luật 49). Tiêu chí phân loại dự án nhóm A
Trừ các dự án quan trọng quốc gia quy định tại Điều 7 của Luật này, các dự án thuộc một trong các tiêu chí dưới đây là dự án nhóm A:
1. Dự án không phân biệt tổng mức đầu tư thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Dự án tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt;
b) Dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh;
c) Dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng, an ninh có tính chất bảo mật quốc gia;
d) Dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ;
đ) Dự án hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất;
2. Dự án có tổng mức đầu tư từ 2.300 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây:
a) Giao thông, bao gồm cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ;
b) Công nghiệp điện;
c) Khai thác dầu khí;
d) Hóa chất, phân bón, xi măng;
đ) Chế tạo máy, luyện kim;
e) Khai thác, chế biến khoáng sản;
g) Xây dựng khu nhà ở;
3. Dự án có tổng mức đầu tư từ 1.500 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây:
a) Giao thông, trừ các dự án quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;
b) Thủy lợi;
c) Cấp thoát nước và công trình hạ tầng kỹ thuật;
d) Kỹ thuật điện;
đ) Sản xuất thiết bị thông tin, điện tử;
e) Hóa dược;
g) Sản xuất vật liệu, trừ các dự án quy định tại điểm d khoản 2 Điều này;
h) Công trình cơ khí, trừ các dự án quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này;
i) Bưu chính, viễn thông;
4. Dự án có tổng mức đầu tư từ 1.000 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây:
a) Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản;
b) Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên;
c) Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới;
d) Công nghiệp, trừ các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này;
5. Dự án có tổng mức đầu tư từ 800 tỷ đồng trở lên thuộc lĩnh vực sau đây:
a) Y tế, văn hóa, giáo dục;
b) Nghiên cứu khoa học, tin học, phát thanh, truyền hình;
c) Kho tàng;
d) Du lịch, thể dục thể thao;
đ) Xây dựng dân dụng, trừ xây dựng khu nhà ở quy định tại điểm g khoản 2 Điều này.

Điều 9 (luật 49). Tiêu chí phân loại dự án nhóm B
1. Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này có tổng mức đầu tư từ 120 tỷ đồng đến dưới 2.300 tỷ đồng.
2. Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật này có tổng mức đầu tư từ 80 tỷ đồng đến dưới 1.500 tỷ đồng.
3. Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại khoản 4 Điều 8 của Luật này có tổng mức đầu tư từ 60 tỷ đồng đến dưới 1.000 tỷ đồng.
4. Dự án thuộc lĩnh vực quy định tại khoản 5 Điều 8 của Luật này có tổng mức đầu tư từ 45 tỷ đồng đến dưới 800 tỷ đồng.

Điều 31 (luật 67). Thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ 
Trừ những dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ theo pháp luật về đầu tư công và các dự án quy định tại Điều 30 của Luật này, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án sau đây: 
1. Dự án không phân biệt nguồn vốn thuộc một trong các trường hợp sau: 
a) Di dân tái định cư từ 10.000 người trở lên ở miền núi, từ 20.000 người trở lên ở vùng khác; 
b) Xây dựng và kinh doanh cảng hàng không; vận tải hàng không; 
c) Xây dựng và kinh doanh cảng biển quốc gia; 
d) Thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí; 
đ) Hoạt động kinh doanh cá cược, đặt cược, casino; 
e) Sản xuất thuốc lá điếu; 
g) Phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu chức năng trong khu kinh tế; 
h) Xây dựng và kinh doanh sân gôn; 
2. Dự án không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên; 
3. Dự án của nhà đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, trồng rừng, xuất bản, báo chí, thành lập tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ 100% vốn nước ngoài; 
4. Dự án khác thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật.

=> KẾT LUẬN: MẶC DÙ CÓ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ, NHƯNG XÉT VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA CÁC LUẬT TRÊN THÌ KHÔNG ĐỦ CĂN CỨ KẾT LUẬN MOBIFONE VI PHẠM ĐƯỢC.


Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2018

Bài thơ: Về đi anh người con xứ quảng

Bài thơ: Về đi anh người con xứ quảng
(LS Nguyễn Cao Hùng tặng anh Vũ Trọng Kim ngày 24/12/2017)

Về đi anh người con xứ quảng

Về đi anh đem lửa hồng cách mạng

Để sưởi ấm lòng người đang nghiêng ngã

Giữa thế sự Quảng Đà ren rối

Hãy nhóm lại cờ hồng chiến sĩ

Khi ngọn lửa trong lò đang rực cháy

Khi lão đốt lò còn chưa ngơi nghỉ

Hãy là người thanh niên xung kích

Khơi dậy tiếng hát "Bài chòi" a nhé!




(Trích điệu cổ bản bài chòi mới viết của anh Vũ Trọng Kim- ĐBQH, nguyên UVTW Đảng, PCT UBTWMTTQ Việt Nam)


Dặn lòng ta hãy không ngưng

Diệt bầy tham nhũng chống lưng cường hào 

Bệnh hành chánh thói ngăn rào

Quay lưng đồng chí đồng bào thiêng liêng

Đốt lò-nóng máu Tiên Rồng

Nướng cho sạch cái lũ điên hại đời.

Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

Quyền tài phán của quốc gia ven biển

Khái quát về biển, đảo Việt Nam

Biển và đại dương được các nhà khoa học gọi là “Lục địa xanh”, phủ kín 70,8% bề mặt trái đất và đang “cất giấu” những kho nguyên liệu, khoáng vật khổng lồ dưới dạng hòa tan trong nước, lắng đọng dưới đáy và vùi kín dưới lòng đại dương. Do có đặc thù như vậy nên nhiều vùng biển, đại dương đang là nơi tranh chấp trên thế giới, nhất là đối với những nước lớn ở gần biển và đại dương có sức mạnh về kinh tế và quân sự.

Biển Đông là một biển nửa kín, nằm ở rìa Tây Thái Bình Dương, với diện tích khoảng 3,5 triệu km2 trải rộng từ vĩ độ 30 lên đến vĩ độ 260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 1210 Đông. Biển Đông tiếp giáp với 9 nước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, Inđônêxia, Bruney, Malayxia, Singapore, Thái Lan, Camphuchia và một vùng lãnh thổ là Đài Loan. Biển Đông có vị trí chiến lược đối với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới.

Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ 100 km2 đất liền có 1km bờ biển). Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển. Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển đảo luôn gắn với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam.


Hải đăng trên đảo Song Tử Tây - Trường Sa - Ảnh: Văn Thành Châu.

Quyền tài phán của quốc gia ven biển
Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: “quyền tài phán là quyền của cơ quan hành pháp và tư pháp của một quốc gia xem xét và giải quyết vụ việc theo thẩm quyền của mình. Trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, quốc gia thực hiện quyền tài phán đầy đủ... Quốc gia còn thực hiện quyền tài phán đối với một số nơi bên ngoài lãnh thổ quốc gia: vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các phương tiện bay, tàu biển, tàu thuyền nước ngoài đi lại trong lãnh hải của mình”. Như vậy, có thể thấy, đối với các quốc gia ven biển (QGVB), quyền tài phán được thực hiện đầy đủ trong lãnh thổ và các vùng biển của mình, với các mức độ và tính chất khác nhau, theo quy định của luật biển quốc tế.

Trong vùng nội thủy và lãnh hải, QGVB có quyền tài phán hình sự và dân sự nhất định đối với tàu thuyền nước ngoài theo những điều kiện mà Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (sau đây gọi là Công ước 1982) quy định (Điều 27, 28) khi hậu quả của vi phạm mở rộng đến QGVB; khi vi phạm có tính chất phá hoại hòa bình của đất nước hay trật tự trong vùng nội thủy; khi thuyền trưởng hay viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu mang cờ yêu cầu hay khi các biện pháp này là cần thiết để trấn áp việc buôn lậu chất ma túy hay các chất kích thích.

Đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, QGVB thực hiện quyền tài phán để ngăn chặn hoặc trừng trị các vi phạm về hải quan, thuế khóa, y tế và nhập cư; có quyền tài phán đối với các hiện vật mang tính khảo cổ hoặc lịch sử.

Trong vùng đặc quyền kinh tế, QGVB có quyền tài phán đối với việc lắp đặt, duy trì, sửa chữa và sử dụng các đảo nhân tạo, các công trình và thiết bị trên biển; quyền tài phán nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển. Khi thực hiện các quyền tự do biển cả (tự do bay, tự do hàng hải, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm), các quốc gia khác phải tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán và phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát của QGVB. Ngoài ra, QGVB cũng có quyền tài phán trong lĩnh vực hành chính, kỹ thuật và xã hội đối với tàu thuyền mang cờ của quốc gia mình trong các vùng biển của quốc gia khác.

Vùng biển nước ta: bao gồm cả vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nước ta có diện tích biển khoảng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền, chiếm gần 30% diện tích Biển Đông (cả Biển Đông gần 3,5 triệu km2). Vùng biển nước ta có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, được phân bố khá đều theo chiều dài của bờ biển đất nước, với vị trí đặc biệt quan trọng như một tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ sườn phía Đông của đất nước. Một số đảo ven bờ còn có vị trí quan trọng được sử dụng làm các điểm mốc quốc gia trên biển để thiết lập đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam, từ đó xác định vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, làm cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các vùng biển.

Theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, các quốc gia ven biển có năm (05) vùng biển gồm: Nội thủy nằm bên trong đường cơ sở; lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý; vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở; riêng thềm lục địa có thể kéo dài ra tới 350 hải lý. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển nói trên:

(1) Nội thủy: Là vùng nước nằm ở phía trong đường cơ sở của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nội thủy được coi như lãnh thổ trên đất liền, đặt dưới chủ quyền toàn vẹn đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia Việt Nam.

Đường cơ sở: là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội thủy, do quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo định ra phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Là đường dùng làm căn cứ để tính chiều rộng lãnh hải và các vùng biển khác. Có 2 loại đường cơ sở:
- Đường cơ sở thông thường: Là đường sử dụng ngấn nước thủy triều thấp nhất ven bờ biển hoặc hải đảo.
- Đường cơ sở thẳng: Là đường nối các điểm hoặc đảo nhô ra nhất của bờ biển lục địa hoặc đảo. Đường cơ sở thẳng áp dụng khi bờ biển quốc gia ven biển bị chia cắt hoặc có chuỗi đảo gắn liền và chạy dọc theo bờ biển.
Nước ta có chuỗi đảo chạy dọc theo bờ biển được vận dụng để xác định đường cơ sở thẳng. Năm 1982, Chính phủ nước ta ra tuyên bố xác định đường cơ sở thẳng ven bờ lục địa Việt Nam gồm 10 đoạn nối 11 điểm. Trừ điểm A8 nằm trên mũi Đại Lãnh, các điểm còn lại đều nằm trên các đảo. Điểm 0 nằm trên ranh giới phía Tây Nam của vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia. Điểm A1: Hòn Nhạn (Kiên Giang); A2: Hòn Đá Lẻ (Cà Mau); A3: Hòn Tài Lớn; A4: Hòn Bông Lan; A5: Hòn Bảy Cạnh (Bà Rịa - Vũng Tàu); A6: Hòn Hải (nhóm đảo Phú Quý - Bình Thuận); A7: Hòn Đôi (Khánh Hòa); A8: Mũi Đại Lãnh (Khánh Hòa); A9: Hòn Ông Căn (Bình Định); A10: Đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi); A11: Đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị).

(2) Lãnh hải: Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý (01 hải lý tương đương 1.852m), ở phía ngoài đường cơ sở. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới của quốc gia ven biển. Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải. Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982, chủ quyền đối với vùng lãnh hải không phải là tuyệt đối như vùng nội thủy, tàu thuyền các nước khác được “đi qua không gây hại” trong lãnh hải. Các quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc phân chia các luồng giao thông dành cho tàu nước ngoài đi qua lãnh hải nhằm bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của mình.

(3) Vùng tiếp giáp lãnh hải: Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng 12 hải lý, hợp với lãnh hải thành một vùng rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình nhằm bảo vệ quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.

(4) Vùng đặc quyền kinh tế: Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền vùng lãnh hải và hợp với vùng lãnh hải thành vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có thẩm quyền trong bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

(5) Thềm lục địa: Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó. Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, nước nào có thềm lục địa tự nhiên quá rộng thì thềm lục địa có thể mở rộng ra không quá 350 hải lý kể từ đường cơ sở. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam.


Thứ Tư, 25 tháng 10, 2017

Tại sao phải nghiên cứu & ban hành Pháp luật về Marketing Thương mại điện tử (Law on E-Marketing)

Tại sao phải nghiên cứu & ban hành Pháp luật về Marketing Thương mại điện tử (Law on E-Marketing)

Điện thoại phải mất 35 năm để tiếp cận với 25% dân số Mỹ, truyền hình mất 26 năm, phát thanh mất 22 năm và điện thoại đi động mất 12 năm, còn Internet chỉ mất 7 năm (từ 2000-2009), trên toàn cầu đã có khoảng 1,6 tỷ người truy cập vào mạng Internet, tốc độ tăng trưởng là 362.3%. Trong ngày độc thân 11/11/2016, doanh số bán hàng Alibaba 1,47 tỷ USD chỉ trong vòng 6 phút 58. Theo số liệu do Công ty We Are Social công bố tháng 01/2017, Việt Nam có dân số khoảng 93 triệu người, trong đó 52 triệu người dùng Internet; có 46 triệu tài khoản mạng xã hội, riêng Facebook có khoản 30 triệu tài khoản và tiêu tốn hơn 3 giờ mỗi ngày/người. Theo thống kê năm 2014, cứ một người Việt có 1.45 sim điện thoại, do đó sẽ là thị trường tiềm năng đối với loại hình mobile marketing.



Tiếp thị thương mại điện tử (e-marketing) được sử dụng và biến hóa dưới nhiều cách khác nhau bởi sự phong phú và linh hoạt trong việc truyền tải nội dung. Trên môi trường Internet, khái niệm về không gian, thời gian là rất mờ nhạt và e-marketing đã tận dụng đặc điểm này để phát huy thế mạnh của mình, củng cố lợi ích mang lại cho doanh nghiệp ứng dụng.

Thương mại điện tử và công nghiệp tiếp thị là 2 lĩnh vực kinh tế mới mẻ tại VN. Đa phần các nghiên cứu đều xem xét các vấn đề về TMĐT độc lập với tiếp thị. Rất ít nghiên cứu về E-Marketing, và chỉ dừng lại khía cạnh kinh tế mà chưa xem xét đến mặt pháp lý của nó. Do đó, việc tìm hiểu và đề xuất mô hình vận động cho pháp luật trong lĩnh vực E-M phù hợp với xu hướng phát triển của pháp luật quốc tế, với sự vận động của các quan hệ xã hội trong môi trường kinh doanh mạng, cũng như đáp ứng được sự thay đổi không ngừng của CNTT-VT là một vấn đề cần thiết và có ý nghĩa to lớn với thời đại Công nghiệp 4.0 ngày nay.

1. Hệ thống pháp lý về E-Marketing

- Một là, các đạo luật cơ bản: Bộ luật hình sự; Các điều ước quốc tế; Bộ luật dân sự;..

- Hai là, các luật chuyên ngành: Quảng cáo; Khuyến mại; Sở hữu trí tuệ; Quyền riêng tư; Cạnh tranh & Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Giao kết hợp đồng đặt hàng trực tuyến;..

- Ba là, các quy định hành chính của chính phủ

- Bốn là, Quy chế tự quản của ngành (hiệp hội): Hiệp hội quảng cáo; Hiệp hội bảo vệ QLNTD;...

2. 08 chế định cơ bản mà pháp luật điều chỉnh E-marketing

- Một là, Sở hữu trí tuệ.

- Hai là, pháp luật về Công nghệ thông tin & Viễn thông

- Ba là, pháp luật về xuất bản & báo chí

- Bốn là, pháp luật về Thuế trong lĩnh vực E-marketing

- Năm là, pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư, và riêng tư khác.

- Sáu là, pháp luật về chất lượng sản phẩm & An toàn thực phẩm; dược phẩm;..

- Bảy là pháp luật về Cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động xúc tiến

- Tám là, chế định về Hợp đồng đặt hàng trực tuyến & thanh toán trực tuyến

Ngoài ra còn có các chế tài về xử phạt vi phạm hành chính & hình sự trong tiếp thị (quảng cáo) & giá (trong khuyến mãi).


3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Thứ nhất, dự báo xu hướng vận động của pháp luật về E-Marketing, góp phần hoàn thiện pháp luật và định hướng giải quyết tranh chấp. 

- Thứ hai, góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách nhà nước, nhằm quản lý hiệu quả hơn, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển nhanh chóng, ổn định và an toàn Thương mại điện tử và ngành công nghiệp tiếp thị số ở Việt Nam. 

- Thứ ba, góp phần hoàn thiện pháp luật Xúc tiến Thương mại & pháp luật cạnh tranh, Bảo vệ quyền lợi Người tiêu dùng.

- Thứ tư, góp phần dự thảo Luật bảo vệ quyền riêng tư, Luật Thương mại điện tử phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng Công nghiệp 4.0.

- Thứ năm, tạo nền tảng khoa học pháp lý để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn pháp luật về E-Marketing & cơ chế giải quyết tranh chấp Trực tuyến. Làm tiền đề xây dựng Luật E-Marketing & pháp luật Trọng tài Thương mại Trực tuyến.

4. Phương hướng hoàn thiện pháp luật E-Marketing ở VN

a. Thứ nhất, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách quản lý chặt chẻ và hiệu quả, cần thiết phải kết hợp và phát triển các mô hình tự quản như hiệp hội quảng cáo,... Đồng thời phải sửa đổi bổ sung phần Xúc tiến thương mại của luật Thương mại 2005 để phù hợp với các pháp luật chuyên ngành và thực tiễn kinh doanh thương mại hiện đại, cụ thể như sau: 

- Một là, pháp luật về quảng cáo cần có các quy định cụ thể điều chỉnh hoạt động tiếp thị, quảng cáo thông qua mạng xã hội; công cụ tìm kiếm; trình duyệt; các tiểu blog, tiểu forum,..; 

- Hai là, pháp luật về khuyến mại cần đưa ra định nghĩa phân biệt giữa các thuật ngữ như: "hạ giá", "giảm giá", "chiết khấu", " khuyến mại", "thanh lý hàng tồn kho" để tránh nhầm lẫn khi áp dụng; 

- Ba là, tiến tới việc cấm hoàn toàn việc tiếp thị, quảng cáo dưới mọi hình thức của các sản phẩm độc hại như: Thuốc lá, Rượu các loại, Bia các loại,..đúng như "lộ trình thực hiện" giai đoạn 2014-2016, trong quyết định số: 244/QĐ-TTg, ngày 12/02/2014. Từ đó, ban hành luật Phòng chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn.

b.Thứ hai, vấn đề pháp luật cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng rất cấp thiết, để phù hợp với thực tế kinh doanh hiên nay. Luật Cạnh tranh được biết như là hiến pháp của pháp luật kinh doanh nhưng đã lạc hậu, cần phải sửa đổi bổ sung đối với một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo, khuyến mại mà các doanh nghiệp đang lạm dụng một cách tinh vi; Hiện tại luật chỉ điều chỉnh phương pháp kinh doanh Đa cấp mà chưa điều chỉnh các phương pháp khác như Viral marketing, Placebo marketing, Ambush marketing, Mobile marketing. Ngoài ra, cũng cần phải hoàn thiện pháp luật về "tố tụng cạnh tranh" dựa trên cơ sở Hội đồng cạnh tranh hiện nay, để đảm bảo hiệu quả thực thi của nó trong thời gian đến.

c.Thứ ba, vấn đề Quyền riêng tư trong hoạt động E-Marketing cũng mang tính thời sự trong cách mạng Công nghiệp 4.0. Ngoài các giải pháp kỹ thuật, thì việc nghiên cứu ban hành Luật bảo vệ quyền riêng tư cá nhân, quyền riêng tư của trẻ em, để phòng ngừa tác hại của tiếp thị thương mại điện tử là cần thiết. Bên cạnh đó, phải ban hành pháp luật điều chỉnh các hành vi lạm dụng "Sốc-Sex-Sến" trong tiếp thị lan tỏa, để hạn chế các chủ thể lợi dụng công nghệ tăng lượt truy cập, thu hút người dùng, kiếm tiền bất chính, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, phong tục nước ta.

d.Thứ tư, vấn đề giao kết hợp đồng đặt hàng trực tuyến và cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến là vấn đề mới mẻ mà pháp luật nước ta cần nghiên cứu áp dụng, cụ thể như sau: 

- Một là, khẩn trương nghiên cứu gia nhập công ước UNCITRAL 2005 về hợp đồng điện tử, từ đó làm căn cứ để triển khai ban hành Luật Thương mại điện tử; 

- Hai là, nghiên cứu triển khai phát triển cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến, từ đó, sửa đổi bổ sung Luật Trọng tài thương mại 2010 & Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; 

- Ba là, ban hành sổ tay về pháp luật E-marketing, kèm theo chế tài để phổ biến và răng đe người dùng, khi tham gia Thương mại điện tử. Từ đó, hoàn thiện việc nghiên cứu, ban hành Luật tiếp thị thương mại điện tử ở VN ;

By: LS-ThS Nguyễn Cao Hùng



Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

PHÂN BIỆT CÔNG PHÁP QUỐC TẾ & TƯ PHÁP QUỐC TẾ

PHÂN BIỆT CÔNG PHÁP QUỐC TẾ & TƯ PHÁP QUỐC TẾ

A. CÔNG PHÁP QUỐC TẾ (LUẬT QUỐC TẾ)
1. Khái niệm Luật quốc tế

Công pháp quốc tế (hay Luật quốc tế) là ngành luật đặc biệt có nhiệm vụ điều chỉnh các mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các quốc gia có chủ quyền và các chủ thể khác tham gia quan hệ quốc tế (các dân tộc đấu tranh vì độc lập và tự do dân tộc mình và các tổ chức quốc tế). Nhưng ở đây cần phân biệt với Tư pháp quốc tế là ngành luật điều chỉnh những quan hệ mang tính chất dân luật có nhân tố nước ngoài tham gia. 

Luật quốc tế hiện đại là tổng thể những nguyên tắc, những quy phạm pháp lý được các quốc gia và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp lý quốc tế xây dựng trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, thông qua đấu tranh và thương lượng, nhằm điều chỉnh mối quan hệ nhiều mặt (chủ yếu là quan hệ chính trị) giữa các chủ thể của Luật quốc tế với nhau (trước tiên và chủ yếu là giữa các quốc gia) và trong những trường hợp cần thiết được bảo đảm thực hiện bằng những biện pháp cưỡng chế riêng lẻ hoặc tập thể do chính các chủ thể của Luật quốc tế thi hành, và bằng sức đấu tranh của nhân dân và dư luận tiến bộ thế giới.


2. Chủ thể của Luật quốc tế hiện đại 
a. Quốc gia - Chủ thể của Luật quốc tế

b. Các dân tộc đang đấu tranh nhằm thực hiện quyền dân tộc tự quyết và chủ thể của Luật quốc tế hiện đại

c. Tổ chức quốc tế liên chính phủ là chủ thể đặc biệt của Luật quốc tế hiện đại:

Các tổ chức liên chính phủ là chủ thể đặc biệt của Luật quốc tế bao gồm: Tổ chức y tế thế giới (WHO), Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức giáo dục, khao học- văn hoá (UNESCO), Quỹ trẻ em Liên Hiệp Quốc (UNICEP), Cao uỷ Liên Hiệp Quốc về người tỵ nạn (UNHCR), Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP),…

d. Các vùng lãnh thổ như Đài Loan, Cantania,..

3. 07 Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế

a. Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia

Trong Hiến chương Liên hợp quốc, nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia là nguyên tắc của Luật quốc tế và cũng là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của tổ chức quốc tế rộng rãi này. Điều 2, khoản 2 Hiến chương ghi rõ: Liên hợp quốc thành lập trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các nước thành viên.

Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng LHQ về những nguyên tắc của Luật quốc tế giải thích nội dung của nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia như sau: Các quốc gia bình đẳng về mặt pháp lý; Mỗi quốc gia đều được hưởng đầy đủ những quyền xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền; Mỗi quốc gia đều phải có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ và thiện chí những nghĩa vụ quốc tế của mình đã tự nguyện cam kết;

Nguyên tắc này biểu hiện qua những quan điểm sau đây:

- Thứ nhất, tất cả các quốc gia đều bình đẳng về mặt pháp lý.

- Thứ hai, tất cả các quốc gia đều có những quyền làm nghĩa vụ quốc tế cơ bản như nhau. 

- Thứ ba, tất cả các quốc gia đều có quyền như nhau được tôn trọng về quốc thể, về sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị độc lập.

- Thứ tư, mỗi quốc gia có quyền được tự do tham gia vào việc giải quyết vấn đề liên quan đến lợi ích của họ không một quốc gia nào có quyền trước đó của một quốc gia khác. 

- Thứ năm, khi giải quyết những vấn đề quốc tế trong phạm vi các tổ chức và hội nghị quốc tế, mỗi quốc gia đều sử dụng một lá phiếu có giá trị ngang nhau. 

- Thứ sáu, các quốc gia ký điều ước với nhau phải trên cơ sở phải bình đẳng, không có một quốc gia nào có quyền áp đặt những điều kiện không bình đẳng đối với quốc gia khác. 

b. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác

Nguyên tắc không can thiệp là tất cả các quốc giai chấp hành có nghĩa vụ không được hành động can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền của quốc gia khác.

Nguyên tắc không can thiệp là hệ quả của nguyên tắc chủ quyền quốc gia. Việc thực hiện nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, tức là tôn trọng quyền tối cao ở trong nước và quyền độc lập trong quan hệ quốc tế của quốc gia, đương nhiên phải tôn trọng hoạt động thuộc thẩm quyền nội bộ của quốc gia đó, nên đòi hỏi các quốc gia không được can thiệp vào lĩnh vực hoạt động này.

Theo tuyên bố này, nội dung của nguyên tắc không can thiệp bao gồm:

- Cấm can thiệp vũ trang và những hình thức can thiệp hoặc đe doạ can thiệp khác nhằm chống lại chủ quyền, hoặc nền tảng chính trị, kinh tế, văn hoá của quốc gia khác.

- Cấm dùng biện pháp kinh tế, chính trị,... để bắt quốc gia khác phải phụ thuộc mình.

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích, giúp đỡ những phần tử hoạt động phá hoại hoặc khủng bố nhằm lật đổ quốc gia khác.

- Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ ở các quốc gia khác.

- Mỗi quốc gia đều có quyền tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá, không có sự can thiệp của nước ngoài.

Tóm lại, nguyên tắc không can thiệp ngày nay đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế và được ghi nhận trong hầu hết văn bản pháp lý quốc tế hai bên cũng như nhiều bên.

c. Nguyên tắc dân tộc tự quyết

Theo bản tuyên bố năm 1970 về những nguyên tắc của Luật quốc tế nội dung của nguyên tắc dân tộc tự quyết được giải thích như sau:

- Tất cả các dân tộc có quyền tự do quyết định quy chế chính trị của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài, và tự do quyết định sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hoá của dân tộc mình.

- Tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền này của các dân tộc.

- Tất cả các quốc gia đều có nghĩa vụ phải thúc đẩy các dân tộc thực hiện quyền tự quyết của họ.

- Cấm không được thống trị và bốc lột dân tộc khác. Phải xoá ngay lập tức chủ nghĩa thực dân.

- Các dân tộc thuộc địa có quyền sử dụng mọi biện pháp cần thiết để đấu tranh giành độc lập.

Sau khi giành được độc lập, các dân tộc có thể thành lập quốc gia dân tộc độc lập của mình hay liên minh với quốc gia khác đã có hoặc các dân tộc khác cũng vừa mới giành được độc lập, dưới hình thức liên bang, hợp bang,... theo cách nhìn nhận của mình.

Các dân tộc dành được độc lập chính trị và đã thành lập được quốc gia độc lập của mình có thêm một cơ sở pháp lý một vũ khí có hiệu lực để cũng cố nền độc lập chính trị của mình và đấu tranh chống lại sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc nhằm giành được chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt với toàn bộ tài nguyên thiên nhiên của dân tộc và nhằm đấu tranh thiết lập một trực tự kinh tế quốc tế mới. 

d. Nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế

Theo tuyên bố năm 1970, nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế có những nội dung sau đây:

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác, kể cả vi phạm biên giới quốc gia của nước khác, với giới tuyến ngừng bắn;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực chống lại nền độc lập chính trị của quốc gia khác;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực làm biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế;

- Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược;

- Cấm dùng vũ lực để ngăn cản các dân tộc thực hiện quyền dân tộc tự quyết cuả họ;

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích bọn phỉ, kể cả lýnh đánh thuê, để xâm lựơc lãnh thổ quốc gia khác;

- Cấm tổ chức hoặc khuyến khích ủng hộ hoặc tham gia vào những cuộc nội chiến hoặc khủng bố ở nước khác;

- Cấm dùng vũ lực để chiếm đóng lãnh thổ quốc gia khác một cách trái với Hiến chương Liên hợp quốc;

- Cấm dùng vũ lực và đe doạ dùng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia khác; tức xâm lược vũ trang.

e. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng các phương pháp hòa bình

Điều 2 khoản 3 Hiến chương Liên hợp quốc quy định: tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp của họ bằng những phương pháp hoà bình, làm sao để khỏi gây ra sự đe doạ cho hoà bình, an ninh thế giới và công lý.

Theo Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên bố năm 1970 nêu lên một số phương pháp hoà bình, đó là: đàm phán, điều tra, trung gian hoà giải, trọng tài, Tòa án thông qua cơ các quan hay hiệp định khu vực, hoặc bằng những phương pháp hoà bình khác mà các bên tự chọn. Rõ ràng, Luật quốc tế hiện đại chưa quy định hết những pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp quốc tế, mà mới chỉ nêu lên một số phương pháp thông dụng nhất và giành cho các quốc gia quyền tự lựa chọn những phương hoà bình khác mà, theo họ là hợp lý. 

Chỉ có một điều bắt buộc tất cả các quốc gia là: giải quyết tranh chấp quốc tế bằng những phương pháp hoà bình. Mọi phương pháp bạo lực, cưỡng ép doạ dẫm,... đều bị nghiêm cấm. Căn cứ vào tuyên bố năm 1970, một khi các bên tranh chấp đã sử dụng phương hoà bình này để giải quyết tranh chấp, nhưng chưa đạt được kết quả, thì phải tìm phương pháp hoà bình khác để giải quyết.

g. Nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế (Pacta Sunt Servanda)

Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda được gải thích cụ thể trong tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế có nội dung bao gồm các điểm sau:

- Mỗi quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện một cách thiện chí những nghĩa vụ mà mình đã cam kết phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và Luật quốc tế hiện đại. Những nghĩa vụ đã cam kết ở đây chủ yếu gồm những nghĩa vụ phát sinh từ điều ước, và những và những nghĩa vụ phát sinh từ các nguồn khác, ví dụ, từ tập quán quốc tế. Nhưng tất cả những nghĩa vụ đó phải phù hơp với những điều quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc mà trước hết là những mục đích và nguyên tắc của tổ chức này. Như vậy, đối với những nghĩa vụ không phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc thì sẽ không được thi hành.

- Các quốc gia cũng sẽ không thi hành các cam kết bất bình đẳng. Lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy không ít những điều ước quốc tế không hợp pháp ví dụ hiệp ước Munich ngày 29/9/1938. Những điều ước như vậy không có giá trị pháp lý cho nên không thể ràng buộc các bên đã ký kết. Vì vậy các quốc gia không có nghĩa vụ phải thực hiện chúng.

- Nếu những cam kết phát sinh từ điều ước quốc tế trái với những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc thì những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc sẽ được ưu tiên thi hành. Việc tham gia Liên hợp quốc không cản trở các quốc gia ký kết những điều ước song phương, cũng như đa phương. Nhưng nội dung của những điều ước này không được trái với Hiến chương Liên hợp quốc(Điều 52 Hiến chương Liên hợp quốc). Do vậy, trong trường hợp những cam kết phát sinh từ điều ước quốc tế trái với nhưng cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc quy định, thì những cam kết theo Hiến chương Liên hợp quốc sẽ được ưu tiên thi hành một cách nghiêm chỉnh (Điều 103 hiến chương liên hợp quốc).

- Nguyên tắc Pacta Sunt Servanda cũng không áp dụng với những điều ước khi ký kết vi phạm những quy định về thẩm quyền và thủ tục ký kết chúng. Trong thực tiễn, điều ước quốc tế, cam kết quốc tế cũng có thê không được thi hành khi những điều kiện để thi hành nó đã thay đổi về cơ bản (Rebus Sic Stantibus). Ví dụ như Hoa Kỳ đã hủy bỏ TTP khi Tổng thống mới đắc cử.

h. Các quốc gia có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau 

B.TƯ PHÁP QUỐC TẾ
1. Khái niệm Tư pháp quốc tế

Tư pháp quốc tế là một bộ môn khoa học pháp lý độc lập và là một ngành luật độc lập bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động và tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài.

a. 09 chế định cơ bản mà Tư pháp quốc tế điều chỉnh là các quan hệ sau:

- Một là, địa vị pháp lý của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài.

- Hai là, về sở hữu tài sản có yếu tố nước ngoài.

- Ba là, về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

- Bốn là, pháp luật về thanh toán quốc tế

- Năm là, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng

- Sáu là, hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài

- Bảy là, thừa kế tài sản

- Tám là, lao động có yếu tố nước ngoài

- Chín là,về tố tụng dân sự quốc tế.

b. Đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

Sự hợp tác quốc tế giữa các quốc gia là hiện thực tất yếu khách quan trong mọi thời đại. Tất cả các lĩnh vực quan hệ pháp lý giữa các quốc gia thuộc đối tượng điều chỉnh của Công pháp quốc tế nhưng những quan hệ pháp lý giữa công dân và pháp nhân phát sinh trong đời sống quốc tế thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế là những quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài được khẳng định tại Điều 758 Bộ luật dân sự 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: “... Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.

Theo Điều 663 BLDS 2015 thì có 3 loại yếu tố nước ngoài mà một quan hệ dân sự có sự hiện diện của một trong ba loại yếu tố đó thì thuộc đối tượng điều chỉnh của Tư pháp quốc tế. Đó là:

- Thứ nhất, chủ thể là cá nhân, pháp nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

- Thứ hai, khách thể của quan hệ pháp lý ở nước ngoài (ví dụ di sản thừa kế ở nước ngoài,..).

- Thứ ba, sự kiện pháp lý là căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài (hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Hoa Kỳ ...).

c. Phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế

- Phương pháp xung đột: Các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thường liên quan đến một hay nhiều quốc gia khác nghĩa là liên quan đến các hệ thống pháp luật khác nhau. Vấn đề đặt ra là cần phải chọn luật pháp nước nào áp dụng để giải quyết quan hệ dân sự đã phát sinh. Việc chọn luật áp dụng phải căn cứ vào quy phạm xung đột. Quy phạm xung đột là loại quy phạm đặc thù của Tư pháp quốc tế. Như vậy, phương pháp xung đột là phương pháp áp dụng các quy phạm pháp luật xung đột nhằm điều chỉnh các quan hệ Tư pháp quốc tế.

- Phương pháp thực chất: Đây là phương pháp áp dụng các quy phạm pháp luật thực chất. Khác với quy phạm xung đột, quy phạm thực chất trực tiếp điều chỉnh và quy định quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể tham gia quan hệ pháp luật cụ thể. Quy phạm pháp luật thực chất bao gồm: quy phạm thực chất thống nhất (được ghi nhận trong Điều ước quốc tế) và quy phạm thực chất thông thường (được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc gia).

d. Chủ thể của Tư pháp quốc tế

Chủ thể của Tư pháp quốc tế là bộ phận cấu thành cơ bản của quan hệ Tư pháp quốc tế, là thực thể đang hoặc sẽ tham gia trực tiếp vào các quan hệ Tư pháp quốc tế một cách độc lập có các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định được bảo vệ theo các quy định của Tư pháp quốc tế và có khả năng độc lập chịu trách nhiệm pháp lý theo qui định của pháp luật đối với những hành vi do chủ thể đó gây ra.

Chủ thể của Tư pháp quốc tế bao gồm thể nhân, pháp nhân và nhà nước (vùng lãnh thổ). Thể nhân và pháp nhân là chủ thể cơ bản, nhà nước (vùng lãnh thổ) là chủ thể đặc biệt.

e. Nguồn của Tư pháp quốc tế

- Luật pháp của mỗi quốc gia

- Điều ước quốc tế

- Thực tiễn tòa án và trọng tài (án lệ)

- Tập quán

Nguồn của Tư pháp quốc tế mang hai tính chất: Điều ước quốc tế và tập quán quốc tế mang tính chất điều chỉnh quốc tế;  Luật pháp của mỗi quốc gia mang tính chất điều chỉnh quốc nội. Mối tương quan giữa 2 tính chất trên đây của nguồn tư pháp quốc tế thể hiện rõ từ Điều 664 đến Điều 670 v của Bộ luật dân sự 2015.

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Máy ATM bitcoin đầu tiên tại Việt Nam và xu hướng giao dịch bitcoin ?


Máy ATM bitcoin đầu tiên tại Việt Nam và xu hướng giao dịch bitcoin ?


Chữ B in hoa trong B Coffee là viết tắt của bitcoin-một loại tiền điện tử đã làm thay đổi mối quan hệ của chúng ta với tiền bạc. Bitcoin xuất hiện đầu tiên năm 2009, và người dùng có thể chuyển tiền trực tiếp cho nhau, không cần thông qua một đơn vị trung gian như ngân hàng.


Đi qua biển hiệu có chữ B treo trước căn nhà số 74 Bùi Viện, bạn nghĩ lại là một hình thức quảng cáo vô thưởng vô phạt của một quán cà phê nào đó. Nhưng đối với những ai hiểu chuyện, đây là biểu tượng khá thú vị, biểu tượng của tương lai.
Hoạt động trao đổi này được ghi lại trong một cuốn sổ cái công cộng (public ledger) gọi là blockchain. Đây cũng là nơi các thợ mỏ “đào” bitcoin và đưa những đồng bitcoin mới vào lưu thông. Từ khi thành lập đến nay, giá trị bitcoin liên tục tăng vọt. Tháng 6/2009 một bitcoin được định giá ở mức 0,0001 USD trong khi hiện tại đã hơn 2.000 USD.

Theo blogger Thomas Barrett, B Coffee sở hữu chiếc máy ATM bitcoin đầu tiên tại Việt Nam. Đây cũng là chiếc máy duy nhất hoạt động suốt 24/24 giờ. Với chiếc máy này, khách hàng cho tiền giấy vào để đổi lấy tiền điện tử bitcoin trong ví điện tử của mình, sau đó có thể mua bán hàng hóa dịch vụ như bất kỳ loại tiền tệ nào.


Dĩ nhiên ở B Coffee, khách hàng có thể dùng bitcoin để mua bia hay cà phê. Danny - người sở hữu B Coffee, tin rằng bitcoin không chỉ đơn giản là một sản phẩm mới.
“Tiền điện tử đang tạo nên những xáo trộn. 20 năm trước khi Internet xuất hiện, mọi người không biết họ có thể làm gì với Internet, nhưng rồi họ dần dần hiểu ra và hiện giờ không thể sống thiếu nó. Cuộc sống của họ xoay quanh Internet. Tôi cảm thấy bitcoin cũng sẽ như vậy. Cuộc sống của tôi cũng đang xoay quanh bitcoin”.
Chia sẻ lý do đặt máy ATM tại phố tây Bùi Viện, Danny cho biết ngày càng có nhiều khách du lịch nước ngoài sử dụng bitcoin như phương tiện giao dịch để tránh những khoản phí đắt đó nếu phải đổi tiền giấy hay biến động tỷ giá. Danny khẳng định không chỉ những vị khách này được lợi từ bitcoin mà có khả năng, cuộc sống của nhiều người Việt cũng đã có bước biến đổi quan trọng.
“Một phụ nữ người Việt đã từng bỏ 68.000 USD để mua bitcoin từ tôi”, Danny nhớ lại. “Lý do ư? Cô ấy muốn giữ một phần số tiền tiết kiệm bằng bitcoin. Thời điểm cô ấy mua vào chỉ khoảng 1.000 USD/bitcoin và giờ chắc người này đang tận hưởng trái ngọt”.
Danny cho biết thêm 8 hay 9 năm trước đây, mọi người hầu như không biết gì về bitcoin. 4 năm trước đây, một số người biết đến loại tiền này, đa số thì không; họ thường liên tưởng bitcoin với giới hacker hoặc ma túy. Nhưng gần đây, nhiều sàn giao dịch bitcoin đã mọc lên. Thái độ của mọi người với bitcoin đang thay đổi.


Xã hội không tiền mặt?

Ngoài việc được đánh giá là một hạng mục đầu tư tiềm năng, bitcoin có thể mở ra hướng mới cho ngành công nghiệp xuất khẩu Việt Nam, tiếp cận những khu vực không có phương tiện thanh toán rõ ràng. Ở dạng bitcoin, giá hàng hóa Việt Nam cũng giống giá hàng hóa ở Anh hay Australia.
"Một khi mọi người chấp nhận thanh toán bằng bitcoin, bất cứ mặt hàng nào, từ cà phê đến thủ công mỹ nghệ đều có thể bán qua biên giới. Việc này tốt hơn cho người dân”, Danny cho biết.

Nhưng với các chính phủ thì sao? Làm thế nào để đối phó với một hệ thống mà vai trò của họ bị “phớt lờ” hoàn toàn?
Chính phủ Việt Nam cùng các bộ ngành liên quan đang gấp rút thực hiện đề án “Hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo”, dự kiến sẽ kết thúc trước tháng 12 năm nay. Còn tại Trung Quốc, giao dịch bitcoin ở đây chỉ chiếm 10% tổng giao dịch trên toàn thế giới vào năm 2012, nhưng đã tăng lên tới gần 100%. Nhiều nhà đầu tư đã sớm nhìn thấy xu hướng này và đang tận hưởng thành quả.
Hiện tại, bitcoin đang phải đối mặt với nhiều sự chỉ trích, khi các chuyên gia tài chính dự đoán tốc độ tăng trưởng của đồng tiền này không bền vững, có thể dẫn tới sự sụp đổ tồi tệ bất cứ lúc nào. Một số người khác thì chỉ ra bitcoin không tồn tại ở trạng thái vật lý, có thể nhìn thấy hay sờ thấy, nên sẽ dễ bị hacker kiểm soát và đánh cắp.
Còn với Danny, chủ quán cà phê sở hữu máy ATM bitcoin đầu tiên tại Việt Nam, anh nhìn nhận bitcoin “là trường hợp nếu không thể đánh bại, thì hãy tham gia”.

Chế định Bitcoin trong ngành tài chính Nhật ?


Chế định Bitcoin  trong ngành  tài chính Nhật ?


Các công ty môi giới Nhật Bản cũng muốn tham gia vào thị trường tiền ảo, tự mình đào coin và đưa ra những định chế riêng.


Với việc người dân Nhật hăm hở mua và lưu hành tiền ảo bitcoin, SBI Holding, GMO Internet và các công ty chứng khoán trực tuyến đang muốn đào mỏ tiền ảo nhằm tạo nguồn doanh thu mới.
Đơn vị khai thác tiền ảo cần hệ thống máy chủ lớn để theo dõi tất cả các giao dịch trên blockchain (sổ cái). Nó cũng phải giải các thuật toán ngày càng phức tạp.

Nhật Bản đang muốn trở thành đầu tàu của ngành công nghiệp tiền ảo


Nhiều mỏ khai thác tiền ảo ngày nay được đặt tại Trung Quốc vì có giá điện rẻ nên thu lợi cao. Giờ đây, ngành tài chính Nhật Bản mong muốn tham gia vào đào tiền ảo và khâu quy định các loại tiền. Tức là họ muốn viết ra các định chế về tiền tệ mới.
Sự nổi lên của bitcoin lý giải vì sao ngành công nghiệp tài chính Nhật Bạn lại háo hức đến như vậy. Hôm 5/10, giá 1 bitcoin đã đạt 499.000 yên (khoảng 4.400 USD). Nhưng chẳng một ai trong số các ông lớn tài chính nước này có hệ thống đào bitcoin.
Nhưng trước khi vận hành máy đào tiền ảo, người khai thác mỏ cần một ngân hàng máy tính hiệu suất cao. Hãy hình dung sức cạnh tranh trên thị trường tiền ảo giống như cuộc chạy đua vũ trang, chỉ những người có đủ nguồn lực mới có thể tham gia.


Bitcoin được điều hành bởi khoảng một chục kỹ sư gọi là các nhà phát triển cốt lõi, những người thiết lập các quy tắc của đồng tiền. Người khai thác mỏ cũng có tiếng nói lớn trong lĩnh vực này.
Khoảng 70% mỏ khai thác bitcoin nằm ở Trung Quốc được kết hợp trong hệ thống chung như AntPool. Nó như hình thức các cá nhân cùng liên kết với nhau làm việc để khai thác các khối giúp thời gian giải mã thuật toán nhanh hơn.
Vào tháng 8, những bất đồng trong việc cố gắng tăng tốc giao dịch bitcoin đã dẫn tới việc một số thợ mỏ đã chia tách tiền ảo do lo ngại giảm lợi nhuận.
Tới tháng 9, thị trường nhận tin sốc khi giới chức Trung Quốc tuyên bố cấm tiền ảo bitcoin nhằm tránh tình trạng đầu cơ tràn lan vào các dự án gây quỹ tiền ảo ICO.
Giữa những rối ren đó, Nhật Bản bất ngờ vượt qua Trung Quốc để trở thành thị trường bitcoin lớn nhất dựa trên lượng tiền giao dịch.
Chủ tịch Yoshitaka Kitao của SBI nói: “Chúng tôi sẽ tìm cách giải quyết những vấn đề tồn đọng mà các nhà tổ chức Trung Quốc đã nhắc đến nhiều”.
GMO và DMM.com đã công bố kế hoạch tham gia thị trường khai thác tiền ảo vào đầu tháng 9, trong khi SBI và Monex Group cũng rục rịch nối gót.

Nên nhớ, GMO và SBI đã có sàn giao dịch tiền ảo, họ hy vọng sẽ tạo được sức mạnh tổng hợp khi tham gia đào coin.
Theo startup Blockchain của Anh, trung bình thợ mỏ trên thế giới kiếm được 7,8 triệu USD mỗi ngày, gấp 10 lần so với 2 năm trước.
Hơn nữa, thế giới có hơn 1.000 loại tiền ảo và chúng được phục vụ theo nhiều mục đích, từ đầu tư, thanh toán cho đến tài chính. Các công ty chứng khoán trực tuyến kỳ vọng sẽ giữ vai trò quan trọng trong một thị trường có tốc độ tăng trưởng cao như vậy.
Bài toán đặt ra là làm sao quản lý hệ thống hiệu quả, giảm thiểu chi phí xuống thấp nhất. Tháng 8, SBI đã thành lập đơn vị khai thác tiền ảo mới với việc đặt cơ sở hạ tầng bên ngoài Nhật Bản nơi có giá điện rẻ. Trong khi đó, Monex lại có kế hoạch phát hành đồng tiền ảo riêng và tự khai thác nó.
GMO dự kiến đầu tư 10 tỷ yên (89 triệu USD) cho mỏ đào coin vào nửa đầu năm 2018. Công ty sẽ xây dựng hệ thống máy chủ đặc biệt ở Scandinavia vì ở đây có nguồn năng lượng tái tạo rẻ và thời tiết lạnh. Riêng DMM.com dự kiến đầu tư 10 tỷ yên cho công cuộc của mình.


(Theo Tri Thức Trẻ)